Giá nông sản hôm nay 2/9: Cà phê trái chiều, lúa gạo trầm lắng

Giá nông sản hôm nay 2/9: Cà phê trái chiều, lúa gạo trầm lắng
Giá cà phê hôm nay 2/9 tại thị trường trong nước duy trì ổn định trong khoảng 95.000 - 95.700 đồng/kg. Trên thị trường thế giới, Robusta tăng trở lại trong khi Arabica tiếp tục giảm. Trong khi đó, giá hồ tiêu đi ngang, còn thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long giao dịch trầm lắng do nghỉ lễ.
Giá cà phê hôm nay
Thị trường cà phê trong nước ngày 2/9 chưa ghi nhận nhiều biến động. Giá thu mua tại các vùng sản xuất trọng điểm Tây Nguyên dao động từ 95.000 - 95.700 đồng/kg, mức bình quân khoảng 95.600 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk, giá cà phê được thu mua ở mức 95.500 đồng/kg. Gia Lai cũng duy trì mức 95.500 đồng/kg.
Lâm Đồng có giá 95.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát. Trong khi đó, khu vực Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục ghi nhận mức cao nhất, đạt 95.700 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê diễn biến trái chiều trên hai sàn giao dịch chủ chốt.
Tại sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 9/2026 tăng 0,91%, tương đương 32 USD/tấn, lên 3.550 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng 0,17%, tương đương 6 USD/tấn, lên 3.535 USD/tấn.
Diễn biến này giúp Robusta lấy lại một phần mức giảm của tuần trước, khi hợp đồng tháng 9 từng mất gần 3%.
Ngược lại, giá Arabica trên sàn New York tiếp tục giảm. Hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 0,56%, tương đương 1,95 US cent/pound, xuống 343,9 US cent/pound. Hợp đồng tháng 12/2026 giảm 0,43%, tương đương 1,35 US cent/pound, còn 311,5 US cent/pound.
Diễn biến trái chiều giữa Robusta và Arabica diễn ra trong bối cảnh thị trường cùng lúc đánh giá triển vọng nguồn cung cà phê toàn cầu trong niên vụ tới và những điểm nghẽn nhất định trong dòng hàng từ các quốc gia sản xuất lớn đến thị trường tiêu thụ.
Giá hồ tiêu hôm nay
Giá hồ tiêu trong nước ngày 2/9 tiếp tục duy trì ổn định, phổ biến trong khoảng 135.000 - 137.000 đồng/kg.
Khu vực Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) dẫn đầu với mức 137.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng tiếp theo với 136.500 đồng/kg.
Tại Đồng Nai, Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu cùng duy trì ở mức 135.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
Như vậy, thị trường hồ tiêu trong nước đã có phiên thứ hai liên tiếp đi ngang sau nhịp giảm khá mạnh vào cuối tháng 8. Trước đó, giá tại các vùng sản xuất trọng điểm giảm khoảng 1.000 - 2.000 đồng/kg trong tuần cuối cùng của tháng.
Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tại các quốc gia xuất khẩu lớn cũng chưa ghi nhận biến động mới.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia được chào bán ở mức 6.897 USD/tấn; tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.800 USD/tấn và tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục ổn định trong khoảng 5.990 - 6.050 USD/tấn đối với hai chủng loại 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ mức 9.443 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt ở mức 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
Giá lúa gạo hôm nay
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo ngày 2/9 ít biến động, hoạt động mua bán trầm lắng do nghỉ lễ.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 34 dao động 5.900 - 6.000 đồng/kg; OM 18 ở mức 6.600 - 6.700 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 6.600 - 6.700 đồng/kg; OM 5451 ở mức 6.500 - 6.600 đồng/kg và IR 50404 ở mức 6.300 - 6.400 đồng/kg.
Tại An Giang, thương lái ngưng mua do nghỉ lễ, giá lúa tươi giữ ổn định. Tại Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ, Cà Mau và Vĩnh Long, giá cũng chưa ghi nhận điều chỉnh.
Với mặt hàng gạo nguyên liệu xuất khẩu, IR 504 và CL 555 cùng dao động 8.900 - 8.950 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Giá phụ phẩm dao động khoảng 7.450 - 8.750 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm ở mức 8.600 - 8.700 đồng/kg và cám ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen có giá cao nhất, ở mức 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; Jasmine 16.500 - 18.000 đồng/kg; Đài thơm 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg.
Gạo thường dao động 13.500 - 15.500 đồng/kg; Sóc thường 14.000 - 15.000 đồng/kg; Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM 18 ở mức 15.500 - 16.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam đi ngang so với đầu tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 373 - 377 USD/tấn và gạo Jasmine được chào bán 534 - 538 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm dao động 453 - 457 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 366 - 370 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động 364 - 368 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 304 - 308 USD/tấn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 8 tháng năm 2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam ước đạt 6,03 triệu tấn, trị giá gần 2,91 tỷ USD, giảm 5% về lượng và 10,7% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân ước đạt 481,5 USD/tấn, giảm 5,9%.
Riêng tháng 7/2026, giá xuất khẩu bình quân đạt 511 USD/tấn, lần đầu tiên trong năm tăng 5,8% so với cùng kỳ. Dự báo cả năm 2026, tổng giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt khoảng 3,94 tỷ USD.
09:19 02/09/2026
09:16 02/09/2026
09:13 02/09/2026
09:06 02/09/2026
09:04 02/09/2026