🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Giảm giống, bớt phân, vẫn tăng lợi nhuận

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Giảm giống, bớt phân, vẫn tăng lợi nhuận

Giảm chi phí đầu vào, thay đổi phương thức canh tác, nâng giá trị hạt gạo giúp nông dân Đồng bằng sông Cửu Long tăng hiệu quả sản xuất lúa.

Giữ đồng ruộng cho cây lúa, con tôm

Khi xâm nhập mặn kéo dài, ông Phạm Chí Thương, Giám đốc HTX Nông nghiệp Nam Quý ở An Giang cùng nhiều nông dân trong vùng phải tính lại chuyện làm lúa. Thay vì duy trì lịch thời vụ cũ, bà con chuyển đổi phương thức sản xuất để thích ứng với điều kiện nguồn nước, đồng thời tìm cách nâng thu nhập trên cùng diện tích đất.

Theo ông Thương, trước đây nông dân từng sản xuất một vụ lúa kết hợp một vụ cá, sau đó chuyển sang hai vụ lúa mỗi năm. Tuy nhiên, khi nguồn nước thay đổi, tình trạng xâm nhập mặn kéo dài khiến mô hình hai vụ lúa không còn phù hợp. Người dân chuyển sang một vụ tôm, cua và một vụ lúa để tận dụng đặc điểm sinh thái của từng mùa.

Cách làm này không chỉ giúp thích ứng với điều kiện tự nhiên mà còn tạo thêm nguồn thu. Đặc biệt, việc hạn chế sử dụng hóa chất trong vụ lúa góp phần duy trì môi trường thuận lợi cho nuôi tôm, cua. Sau vụ thủy sản, đồng ruộng tiếp tục được sử dụng để sản xuất lúa theo hướng hữu cơ.

Từ thực tế sản xuất, ông Thương vận động các thành viên HTX thay đổi tập quán canh tác, giảm sử dụng hóa chất, đồng thời tăng cường liên kết với doanh nghiệp để tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. “Đi đâu không bằng về nhà ăn cơm, sức khỏe con người là quan trọng nhất”, ông Thương chia sẻ về lý do vận động bà con cùng lựa chọn hướng sản xuất lúa hữu cơ.

Theo ông Thương, thu nhập từ tôm, cua có thể cao gấp 3 - 7 lần so với lúa. Dù năng suất lúa hữu cơ thấp hơn phương thức canh tác thông thường, việc giảm sử dụng hóa chất và liên kết tiêu thụ giúp nông dân hướng đến sản xuất an toàn, ổn định đầu ra và hạn chế phụ thuộc vào thương lái.

Đến nay, HTX Nông nghiệp Nam Quý đã phát triển từ 14 lên 97 thành viên, diện tích sản xuất và liên kết tăng từ 25 hecta lên khoảng 295 hecta. Lúa hữu cơ được doanh nghiệp thu mua với giá khoảng 10.000 đồng/kg, cao hơn đáng kể so với lúa sản xuất thông thường. Với ông Thương, hiệu quả của chuyển đổi không chỉ nằm ở thu nhập sau mỗi vụ. Quan trọng hơn là duy trì được môi trường đồng ruộng để cây lúa và con tôm tiếp tục mang lại sinh kế lâu dài cho người dân.

Tham gia Đề án phát triển bền vững 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng ĐBSCL gần một năm nay, ông Thương cho biết các hoạt động tập huấn giúp nông dân tiếp cận thêm kỹ thuật canh tác giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả đất đai, nguồn nước. Tuy nhiên, mô hình lúa - tôm hay canh tác hữu cơ chỉ phù hợp với những điều kiện sinh thái nhất định. Để nâng hiệu quả sản xuất trên diện rộng, ngành lúa gạo cần những quy trình kỹ thuật có khả năng áp dụng đồng bộ, phù hợp với đặc điểm từng vùng.

Từ việc chuyển đổi mùa vụ theo nguồn nước đến điều chỉnh lượng giống, phân bón và phương thức tưới, điểm chung của các mô hình là nâng hiệu quả sản xuất ngay từ khâu tổ chức canh tác. Đây cũng là hướng tiếp cận của các mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp đang được triển khai tại ĐBSCL.

Lấy hiệu quả làm thước đo

Một trong những thay đổi rõ nét của phương thức canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp là giảm chi phí đầu vào nhưng vẫn duy trì, thậm chí nâng năng suất và lợi nhuận.

Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI), tại các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, lượng giống gieo sạ giảm khoảng 50%, phân đạm giảm 30% và thuốc bảo vệ thực vật giảm 20%. Trong khi đó, năng suất tăng khoảng 5%, lợi nhuận tăng 10% so với canh tác truyền thống.

Những kết quả này cho thấy hiệu quả sản xuất không chỉ được quyết định bởi sản lượng thu hoạch mà còn từ khoản chi phí tiết kiệm trong suốt vụ lúa. Trong đó, cơ giới hóa gieo sạ chính xác kết hợp bón vùi phân giúp kiểm soát mật độ cây, nâng hiệu quả hấp thu dinh dưỡng. Kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ góp phần tiết kiệm nước, hạn chế phát thải khí mê-tan.

Việc thu gom rơm rạ sau thu hoạch tạo điều kiện tái sử dụng phụ phẩm, giảm tác động đến môi trường. Tuy nhiên, thay đổi tập quán canh tác không phải việc dễ dàng. Với những nông dân đã quen gieo sạ dày, bón phân theo kinh nghiệm, việc giảm lượng giống, phân bón hoặc điều chỉnh chế độ tưới thường đi kèm lo ngại ảnh hưởng đến năng suất.

Vì vậy, các mô hình trình diễn có vai trò quan trọng trong việc giúp người dân trực tiếp theo dõi sinh trưởng của cây lúa, lượng vật tư sử dụng và kết quả thu hoạch. Khi nhìn thấy hiệu quả trên đồng ruộng, nông dân sẽ có thêm cơ sở để quyết định áp dụng quy trình mới.

Ông Ngô Xuân Chinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chuyển giao Tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam cho biết, đơn vị đang triển khai dự án “Xây dựng mô hình sản xuất lúa chất lượng cao giảm phát thải phục vụ Đề án Phát triển bền vững 1 triệu hecta vùng ĐBSCL”.

Thông qua tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn và trao đổi kinh nghiệm, dự án hướng đến chuyển giao quy trình canh tác cải tiến, giúp nông dân giảm chi phí đầu vào, nâng hiệu quả sản xuất và từng bước giảm phát thải. Quá trình triển khai cũng giúp nhận diện những khó khăn khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều hộ sản xuất, nhất là điều tiết nước, tổ chức cơ giới hóa và thu gom rơm rạ.

Đối với sản xuất lúa trên diện rộng, một hộ nông dân khó có thể chủ động hoàn toàn các khâu này nếu hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng và lịch thời vụ chưa được tổ chức đồng bộ. Do đó, việc nhân rộng quy trình cần gắn với liên kết sản xuất và điều kiện hạ tầng của từng vùng.

Theo ông Lê Thanh Tùng, Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam, Đề án không chỉ đặt ra yêu cầu đổi mới quy trình canh tác mà còn cần chú trọng xây dựng vùng nguyên liệu, đầu tư hạ tầng và số hóa sản xuất. Trong đó, hạ tầng phục vụ sản xuất bao gồm cải tạo đồng ruộng, giao thông và logistics, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hóa, thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm trên quy mô lớn. Ông Tùng cho rằng, cần phân biệt những nhiệm vụ có thể triển khai ngay bằng nguồn lực hiện có với các hạng mục đòi hỏi đầu tư công trình.

Đối với quy trình canh tác, địa phương có thể rà soát, khai thác hiệu quả các chính sách và nguồn lực sẵn có để hỗ trợ nông dân áp dụng kỹ thuật. Riêng đầu tư hạ tầng, cần lựa chọn những khu vực trọng điểm, tránh dàn trải trên toàn bộ diện tích trồng lúa. Cùng với đó, việc kết hợp nguồn lực từ các chương trình phát triển vùng nguyên liệu, sản xuất phát thải thấp, ngân sách địa phương, Trung ương, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế cần được tính toán phù hợp. Khi kỹ thuật canh tác, hạ tầng và liên kết sản xuất được triển khai đồng bộ, việc mở rộng diện tích lúa chất lượng cao, phát thải thấp mới có cơ sở duy trì ổn định.

Từ mô hình lúa - tôm ở An Giang đến những cánh đồng áp dụng quy trình canh tác giảm phát thải, hướng đi chung là tổ chức lại sản xuất để sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực sẵn có. Khi mỗi hecta lúa được canh tác với chi phí hợp lý, chất lượng ổn định và ít tác động đến môi trường, lợi ích không chỉ thuộc về nông dân mà còn góp phần nâng sức cạnh tranh của ngành hàng lúa gạo. Đó cũng là nền tảng để các mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp vượt khỏi phạm vi trình diễn, trở thành phương thức sản xuất bền vững trên những cánh đồng ở ĐBSCL.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, kết quả tại các mô hình cho thấy lượng giống gieo sạ giảm khoảng 30 - 50%, phân bón hóa học giảm 20 - 30%, số lần phun thuốc BVTV giảm 2 - 3 lần mỗi vụ và lượng nước tưới tiết kiệm khoảng 20 - 40%. Trong khi đó, năng suất lúa tăng khoảng 5 - 12%, lợi nhuận tăng từ 1,5 - 9,3 triệu đồng/ha/vụ so với phương thức canh tác đối chứng. Kết quả đo đạc bước đầu cũng ghi nhận mức giảm phát thải khoảng 3 - 4 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ, tùy điều kiện sản xuất và mức độ áp dụng quy trình.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage