Hoàn thiện hạ tầng logistics phục vụ sản xuất, xuất khẩu nông sản - Tạp Chí Điện Tử Thiên Nhiên Và Môi Trường

Hoàn thiện hạ tầng logistics phục vụ sản xuất, xuất khẩu nông sản
Hotline: 0941068156
Thứ năm, 29/10/2026 19:10
Thứ năm, 29/10/2026 10:10
TMO - Việc triển khai kế hoạch phát triển logistics nông nghiệp được kỳ vọng tạo thêm động lực giảm chi phí, hạn chế tổn thất sau thu hoạch và nâng sức cạnh tranh cho nông sản địa phương.
Hạ tầng hệ thống logistics có ý nghĩa rất quan trọng trong tổng thể nền kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Trong những năm qua, Nhà nước đã quan tâm đầu tư phát triển hệ thống logistics thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, tạo thuận lợi cho người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, kết nối sản xuất với tiêu thụ, xuất khẩu nông lâm thủy sản, góp phần ổn định an ninh lương thực, đảm bảo nguồn thực phẩm chất lượng, an toàn cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp lớn cho kinh tế - xã hội nước ta trong nhiều năm qua.
Tuy nhiên, so với tiềm năng, lợi thế sản xuất thì hệ thống logistics kết nối giữa sản xuất và đưa nông sản ra thị trường trong nước và quốc tế nói chung vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra; kết nối vận chuyển đường bộ, đường biển, hàng không theo phương thức tiêu thụ truyền thống vẫn chưa thật sự hiệu quả, các phương thức tiêu thụ thông qua thương mại điện tử còn thiếu và hạn chế dẫn đến chi phí logistics còn cao, giảm sức cạnh tranh của nông sản Việt.
Gia Lai là vùng sản xuất một số loại nông sản có quy mô lớn, giá trị kinh tế cao, nhất là cây công nghiệp và cây ăn quả. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, những năm qua, tỉnh đã xây dựng nhiều trang trại sản xuất nông nghiệp tập trung, ứng dụng công nghệ cao phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Đồng thời, tỉnh ưu tiên phát triển nhiều sản phẩm nông nghiệp chủ lực có giá trị kinh tế cao.
Gia Lai hình thành vùng nguyên liệu tập trung đối với cây trồng chủ lực như cà phê, chanh leo, sầu riêng.
Tỉnh đã từng bước hình thành các vùng nguyên liệu đối với một số cây trồng chủ lực như cà phê, chanh dây, sầu riêng. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có hơn 108 nghìn ha cà phê, sản lượng đạt trên 340 nghìn tấn/năm. Trong đó, hơn 56.000 ha được sản xuất theo các tiêu chuẩn như 4C, Rainforest Alliance và hữu cơ. Đối với cây chanh dây, toàn tỉnh có khoảng 5.650 ha, sản lượng đạt hơn 213 nghìn tấn/năm. Sản phẩm chanh dây đã có mặt tại nhiều thị trường như Trung Quốc, EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… dưới các dạng quả tươi, dịch cấp đông, nước ép cô đặc. Trong khi đó, diện tích sầu riêng hơn 9.200 ha, sản lượng đạt gần 57.700 tấn/năm.
Trong 8 tháng của năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông sản của tỉnh đạt hơn 1,2 tỷ USD, chiếm hơn 45,2% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Nông sản Gia Lai đã xuất khẩu đến hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, với các mặt hàng chủ lực. Từ những nền tảng này, các vùng nguyên liệu đang dần hình thành theo hướng tập trung. Chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân từng bước được xây dựng, góp phần ổn định nguồn cung cho chế biến và tiêu thụ.
Tuy nhiên, để nông sản địa phương phát huy hết tiềm năng và mở rộng thị trường tiêu thụ, việc phát triển hệ thống logistics đồng bộ đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Hiện nay, chi phí vận chuyển, bảo quản sau thu hoạch và khâu phân phối vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của nông sản trên thị trường trong và ngoài nước.
Trước thực tế đó, tỉnh đang chú trọng đầu tư hạ tầng logistics, bao gồm hệ thống kho lạnh, trung tâm đóng gói, bảo quản nông sản, cũng như nâng cấp mạng lưới giao thông kết nối vùng sản xuất với các trung tâm tiêu thụ và xuất khẩu. Bên cạnh đó, việc hình thành các trung tâm logistics nông nghiệp và ứng dụng công nghệ trong quản lý chuỗi cung ứng cũng được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, kéo dài thời gian bảo quản và giảm thiểu thất thoát sau thu hoạch.
Trước yêu cầu này, Gia Lai phát triển đồng bộ dịch vụ logistics từ vùng nguyên liệu đến thu gom, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển và thị trường; phát huy lợi thế kết nối Đông – Tây giữa Tây Nguyên với Cảng Quy Nhơn, Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh, các cảng hàng không Phù Cát, Pleiku và mạng lưới giao thông liên vùng. Phấn đấu đáp ứng nhu cầu dịch vụ logistics tại các vùng sản xuất nông, lâm, thủy sản tập trung; ưu tiên các ngành hàng chủ lực: cà phê, cao su, sắn, mía, điều, hồ tiêu, chuối, sầu riêng, chanh dây, chăn nuôi, thủy sản và gỗ, sản phẩm gỗ.
Rà soát, bố trí và huy động nguồn lực phát triển điểm thu gom, trung chuyển, sơ chế, đóng gói, kho bảo quản, kho lạnh, vận tải chuyên dụng và các đầu mối logistics phù hợp quy hoạch; tăng cường kết nối vùng nguyên liệu với cảng biển, cửa khẩu và trung tâm logistics vùng. Địa phương này đặt mục tiêu đến năm 2030 ít nhất 80% doanh nghiệp dịch vụ logistics trong nông nghiệp trên địa bàn ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý, điều hành và cung ứng dịch vụ.
Bên cạnh đó, 100% vùng sản xuất hàng hóa nông, lâm, thủy sản tập trung được cung cấp, tiếp cận đầy đủ các dịch vụ truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch, kiểm tra, kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng, chế biến và phát triển thị trường; 100% mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu được cập nhật, quản lý và kết nối truy xuất nguồn gốc theo điều kiện, quy định áp dụng.
Tỉnh phát triển logistics gắn với vùng nguyên liệu, chế biến và thị trường. Rà soát năng lực, nhu cầu dịch vụ theo ngành hàng, địa bàn và mùa vụ; phát triển các điểm thu gom, phân loại, sơ chế, bảo quản, đóng gói, kiểm định, kiểm dịch tại vùng sản xuất tập trung; thúc đẩy liên kết nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp chế biến – doanh nghiệp logistics – đơn vị phân phối. Tăng cường kết nối hành lang Gia Lai – Đắk Lắk – Lâm Đồng và tuyến Đông – Tây với Cảng Quy Nhơn, Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh, các cảng hàng không và thị trường trọng điểm.
Đầu tư, hoàn thiện kết cấu hạ tầng logistics nông sản: Rà soát quy hoạch, quỹ đất, hiện trạng kho bãi, cơ sở sơ chế, chế biến và mạng lưới vận tải; ưu tiên hạ tầng giao thông kết nối vùng nguyên liệu, điểm trung chuyển, kho lạnh, kho bảo quản, giết mổ tập trung, cảng cá và dịch vụ hậu cần nghề cá. Khuyến khích đầu tư đầu mối logistics nông sản tại khu vực có lợi thế về cảng biển, cửa khẩu, khu công nghiệp, vùng nguyên liệu; lựa chọn quy mô, vị trí và công suất trên cơ sở khảo sát nhu cầu, hiệu quả đầu tư, quy hoạch và thủ tục pháp luật.
Phát triển vận tải đa phương thức, tăng cường kết nối và giảm chi phí vận chuyển nông sản Rà soát, đánh giá nhu cầu vận chuyển nông sản theo vùng nguyên liệu, ngành hàng và thị trường tiêu thụ; nghiên cứu, tổ chức vận tải đa phương thức, kết hợp hiệu quả giữa đường bộ, đường sắt và đường biển nhằm tối ưu hóa hành trình, giảm chi phí vận chuyển và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản.
Hạ tầng logistics giữ vai trò quan trọng trong xuất khẩu nông sản.
Đối với nông sản xuất khẩu, ưu tiên kết nối vận chuyển từ vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến về Cảng Quy Nhơn và các cảng nước sâu, đầu mối logistics trên địa bàn tỉnh; phát huy lợi thế hạ tầng giao thông kết nối Đông – Tây, hạn chế vận chuyển vòng qua các địa phương khác làm phát sinh chi phí không cần thiết. Đối với nông sản tiêu thụ nội địa, nghiên cứu phương án kết hợp vận tải đường bộ và đường sắt, tập kết hàng hóa về Ga Diêu Trì để vận chuyển đến các ga đầu mối phía Nam, nhất là Ga Sóng Thần, nhằm giảm chi phí nhiên liệu và vận tải đường dài.
Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, chế biến, vận tải và logistics; khảo sát, so sánh chi phí, hiệu quả các phương thức vận chuyển để lựa chọn phương án phù hợp; khuyến khích tổ chức vận tải hai chiều, ứng dụng công nghệ số trong điều phối, quản lý vận tải, góp phần giảm chi phí logistics và nâng cao hiệu quả lưu thông, tiêu thụ nông sản.
Hoàn thiện, kết nối dữ liệu vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, mùa vụ, sản lượng, cơ sở sơ chế, kho lạnh và thông tin thị trường; ứng dụng truy xuất nguồn gốc điện tử, quản lý kho, quản lý vận tải, giám sát nhiệt độ chuỗi lạnh, giao dịch số; nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ phù hợp. Khuyến khích bảo quản tiết kiệm năng lượng, vận tải tối ưu, sử dụng năng lượng sạch, tái sử dụng phụ phẩm và xử lý chất thải đúng quy định.
Ngành chức năng phát triển dịch vụ logistics theo đặc thù từng nhóm ngành hàng. Đối với tồng trọt: Phát triển logistics sau thu hoạch, cơ sở sơ chế, đóng gói, kho bảo quản cho cây công nghiệp, rau quả và các vùng sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu. Trong chăn nuôi: Phát triển chuỗi từ cung ứng đầu vào, chăn nuôi an toàn dịch bệnh đến giết mổ, chế biến và bảo quản lạnh.
Trong lĩnh vực thủy sản: Nâng cấp hậu cần cảng cá, dịch vụ cung ứng, bảo quản trên tàu, kho lạnh và trung chuyển phục vụ khai thác, nuôi trồng, xuất khẩu. Lâm nghiệp: Phát triển vùng gỗ nguyên liệu hợp pháp gắn với điểm tập kết, chế biến sâu, vận chuyển và truy xuất nguồn gốc. Với kinh tế hợp tác: Hỗ trợ hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết tiêu thụ, chuẩn hóa sản phẩm OCOP, tham gia dịch vụ logistics và thương mại điện tử./.
**Thùy Chi **
Web đang chạy kỹ thuật
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.