Khuyến nông bám vùng trồng từ trước đến sau khi cấp mã

Hệ thống khuyến nông cam kết hỗ trợ người sản xuất từ chuẩn bị vùng trồng, kê khai hồ sơ đến duy trì điều kiện sau cấp mã, khi thủ tục đưa về cấp xã.
Được cấp mã số không còn được xem là điểm kết thúc của một vùng trồng. Sau khi hồ sơ hoàn tất, người sản xuất vẫn phải duy trì quy trình kỹ thuật, nhật ký sản xuất, thông tin truy xuất, kiểm soát sinh vật gây hại và an toàn thực phẩm. Vì vậy, cùng với việc đơn giản hóa thủ tục, một hướng triển khai được đặt ra với các địa phương là đưa hệ thống khuyến nông tham gia xuyên suốt từ trước, trong đến sau khi cấp mã.
Nội dung này được đưa ra tại Hội nghị "Tập huấn khuyến nông Hướng dẫn triển khai quy định về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói" do Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phối hợp Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Cục Chuyển đổi số tổ chức sáng 20/8.
Khoảng cách từ quy định đến thực tế
Hàng trăm câu hỏi gửi về từ 1.000 điểm cầu cho thấy phần nào khó khăn của địa phương khi triển khai thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói. Đó không hẳn nằm ở việc thiếu quy định, mà ở cách xử lý các tình huống phát sinh khi quy định đi vào từng vùng sản xuất.
Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang nêu trường hợp doanh nghiệp muốn bổ sung diện tích vào một vùng trồng đã có mã. Nếu phải hủy mã cũ để thực hiện lại thủ tục, khoảng thời gian chờ mã mới có thể làm gián đoạn hoạt động kinh doanh. Sở đề nghị nghiên cứu khả năng giữ mã cũ trong khi thẩm định phần diện tích tăng thêm.
Khó khăn không chỉ nằm ở cấu trúc vùng trồng. An Giang cũng phản ánh một số xã chưa có hướng dẫn thủ tục cụ thể, trong khi cán bộ mới nhận nhiệm vụ nên việc hỗ trợ người dân kê khai trên phần mềm có thể mất nhiều thời gian. "Đề nghị xây dựng quy trình theo từng bước để cấp xã dễ triển khai hơn", đại diện Sở chia sẻ.
Từ Đắk Lắk, trăn trở của người dân lại liên quan tới những mã đã bị tạm dừng trước khi quy định mới có hiệu lực do không đáp ứng yêu cầu diện tích tối thiểu. Sau khi đơn vị khắc phục, địa phương đặt vấn đề thẩm quyền khôi phục thuộc cấp tỉnh hay cấp xã.
Tuyên Quang lại đặt câu hỏi về thời hạn cấp mã cho trường hợp không đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu mã số, dù nội dung này đã được quy định. Những câu hỏi như vậy cho thấy một thực tế. Khi thẩm quyền, quy trình và phương thức xử lý hồ sơ cùng thay đổi, việc văn bản đã quy định không đồng nghĩa cán bộ cơ sở và người sản xuất có thể ngay lập tức áp dụng thống nhất.
Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Lê Quốc Thanh nhìn nhận, số lượng lớn câu hỏi gửi về cho thấy vẫn còn khoảng cách giữa hệ thống văn bản, tài liệu và thực tiễn. Theo ông, những nội dung chưa giải quyết hết cần tiếp tục được cập nhật vào tài liệu hướng dẫn, trong đó có cả quy trình duy trì mã số sau khi được cấp.
Khoảng cách ấy rõ hơn ở những tình huống tưởng như rất nhỏ tại đồng ruộng. Chẳng hạn, một vùng sản xuất rau nếu chỉ đăng ký một loại cây cụ thể có thể gặp vướng mắc khi chuyển sang cây khác trong cơ cấu luân canh. Vì vậy, ông lưu ý cán bộ cơ sở phải hiểu cơ cấu cây trồng để hướng dẫn người dân kê khai phù hợp ngay từ đầu, thay vì chỉ hỗ trợ điền biểu mẫu.
Tương tự, với vùng trồng do nhiều hộ cùng tham gia, nếu một hộ rút khỏi liên kết có thể làm thay đổi diện tích và thông tin của cả vùng. Điều này khiến việc duy trì mã số cần gắn trực tiếp với cách tổ chức sản xuất, cam kết liên kết từ các bên và khả năng giữ ổn định vùng nguyên liệu, chứ không đơn thuần là một thủ tục hành chính độc lập.
Khuyến nông không chỉ hỗ trợ làm hồ sơ
Những khoảng trống đã chỉ ra chính là dư địa cho hệ thống khuyến nông, mà trực tiếp là các tổ khuyến nông cộng đồng chung tay với người dân. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia xác định đích đến là giúp người sản xuất “hiểu đúng - làm đúng - duy trì bền vững” mã số trong thực tế, với mạng lưới xuyên suốt từ Trung ương xuống cơ sở.
Trước khi đăng ký, cán bộ khuyến nông có thể cùng người dân rà soát thông tin vùng trồng, xác định cơ cấu sản xuất, chuẩn bị điều kiện kỹ thuật và hiểu rõ vì sao cần mã. Ở khâu hồ sơ, lực lượng này hỗ trợ kê khai thông tin chính xác và thao tác trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, nhưng người sản xuất vẫn là chủ thể tự khai và chịu trách nhiệm về dữ liệu.
Sau khi mã được cấp, vai trò chuyển sang phần khó hơn, đó là duy trì điều kiện. Người sản xuất phải tiếp tục ghi chép nhật ký, tuân thủ quy trình canh tác, quản lý sinh vật gây hại và an toàn thực phẩm. Khuyến nông hỗ trợ giám sát thực hành, nhận diện tồn tại và kết nối với cơ quan chuyên môn để xử lý trước khi vấn đề trở thành vi phạm.
Việc phân định trách nhiệm cũng được đặt ra rõ để tránh biến khuyến nông thành một tầng hành chính mới. Cơ quan quản lý chịu trách nhiệm thẩm định, cấp mã, hậu kiểm, quản lý dữ liệu và xử lý vi phạm. Người sản xuất, hợp tác xã chịu trách nhiệm kê khai và duy trì điều kiện sản xuất. Khuyến nông thực hiện tư vấn kỹ thuật, hỗ trợ chuẩn hóa thông tin, kết nối doanh nghiệp và phản ánh những vướng mắc phát sinh từ cơ sở.
Hệ thống đào tạo cũng được thiết kế theo chuỗi này. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia xây dựng tài liệu và tập huấn cấp quốc gia. Khuyến nông tỉnh hình thành lực lượng nòng cốt. Khuyến nông xã, tổ khuyến nông cộng đồng thực hiện hướng dẫn trực tiếp tại cơ sở. Hợp tác xã và chủ mã là nơi thực hành, duy trì quy trình sản xuất.
Theo ông Thanh, vai trò này cũng đòi hỏi thay đổi cách làm của chính hệ thống khuyến nông. Trung ương phải cập nhật hướng dẫn, cấp tỉnh tham mưu, điều phối, còn lực lượng tại xã trực tiếp triển khai. Sau một thời gian thực hiện, Trung tâm dự kiến tiếp tục tổ chức các diễn đàn, tọa đàm và đối thoại để thu nhận vấn đề từ cơ sở, nhất là trước quá trình lấy ý kiến sửa Nghị định 38/2026/NĐ-CP.
Như vậy, dòng thông tin không chỉ đi một chiều từ cơ quan quản lý xuống nông dân. Thay vào đó, lực lượng khuyến nông được xem như những kênh tiếp nhận vướng mắc của vùng sản xuất trở lại quá trình hoàn thiện chính sách.
Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nghiêm Quang Tuấn cho rằng, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn giúp định danh, truy xuất nguồn gốc, chuẩn hóa sản xuất và minh bạch dữ liệu nông sản. Việc đăng ký và duy trì mã buộc người sản xuất tuân thủ tốt hơn quy trình sản xuất và sử dụng vật tư nông nghiệp.
Yêu cầu “bám vùng trồng”, do đó, không kết thúc khi xã phát hành thông báo cấp mã. Thay vào đó, cơ quan chuyên môn cần giúp người dân trả lời được 3 câu hỏi. Đăng ký để làm gì, cần làm gì và duy trì thế nào. Đồng thời, chuyển cách tiếp cận từ “đăng ký cấp mã lấy thành tích” sang đăng ký để quản lý sản xuất và phát triển thị trường.
Đó cũng là mục tiêu của việc phân cấp, phân quyền cho địa phương. Thủ tục hành chính có thể được số hóa và xử lý nhanh hơn ở cấp xã, nhưng chất lượng của mã số vẫn được quyết định trên từng thửa đất và qua từng vụ sản xuất. Nếu khuyến nông thực sự bám sát được từng khâu, thước đo sẽ không còn nằm ở số lượng mã đã cấp, mà là số vùng trồng duy trì được điều kiện, giữ được dữ liệu tin cậy và sử dụng mã như một công cụ để truy xuất nguồn gốc, minh bạch hóa thông tin người sản xuất.
Một số lưu ý khi đăng ký mã số vùng trồng
Theo ông Bùi Xuân Phong, Trưởng phòng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, vùng trồng đã được cấp mã nhưng chưa đăng ký xuất khẩu vẫn có thể bổ sung thị trường xuất khẩu sau đó. Trên hệ thống, tổ chức, cá nhân lựa chọn mã đã được cấp, chọn thị trường muốn bổ sung và nộp hồ sơ. Các thông tin đã kê khai trước đó được kế thừa. Khi đăng ký xuất khẩu, hồ sơ sẽ bổ sung các yêu cầu riêng của thị trường tương ứng để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra.
Ông cũng lưu ý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói là 2 thủ tục độc lập. Theo quy định hiện hành, cơ sở đóng gói không bắt buộc đồng thời đăng ký mã số vùng trồng và không phải kê khai danh sách các mã vùng trồng liên kết như yêu cầu trước đây.
Với vùng trồng gồm nhiều thửa đất nhưng nằm trên địa bàn từ 2 xã, phường trở lên, ông Phong đề nghị tách thành 2 mã, mỗi phần diện tích đăng ký tại địa phương nơi có đất. Nguyên nhân là UBND một xã không thể xác minh, thẩm định phần diện tích thuộc địa giới hành chính của xã khác.
Ngoài ra, hồ sơ điện tử không bắt buộc đính kèm toàn bộ quy trình sản xuất đã kê khai. Tuy nhiên, khi cơ quan chức năng kiểm tra thực tế, chủ thể phải xuất trình được quy trình đó. Nếu không chứng minh được, vùng trồng sẽ không đáp ứng yêu cầu để cấp mã.