Nông dân bỏ ruộng và lời giải công cuộc tích tụ đất đai: [Bài cuối] Cần hệ sinh thái đủ sức hấp dẫn cho đất nông nghiệp
![Nông dân bỏ ruộng và lời giải công cuộc tích tụ đất đai: [Bài cuối] Cần hệ sinh thái đủ sức hấp dẫn cho đất nông nghiệp](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/800w/files/news/2026/08/21/4603-dang-hung-vo-nongnghiep-084558-nongnghiep-113152.jpg)
Cần tạo ra hệ sinh thái đủ sức hấp dẫn để doanh nghiệp, người dân tham gia và nông nghiệp có thể tạo ra thu nhập cạnh tranh với các ngành nghề phi nông nghiệp.
Nông dân chuyển dần sang tư duy phi nông nghiệp
Theo GS Đặng Hùng Võ, nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng ruộng đất bị bỏ hoang, nhất là tại các tỉnh phía Bắc là quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ trong khu vực, làm thay đổi căn bản cơ cấu việc làm nguồn thu nhập của người dân.
Trước đây, nông nghiệp là sinh kế chính của phần lớn người dân nông thôn. Nhưng hiện nay, khi đẩy mạnh công nghiệp hóa, xây dựng và các ngành nghề phi nông nghiệp phát triển, thu nhập từ những công việc như công nhân, thợ xây dựng... có thể cao hơn so với sản xuất nông nghiệp.
Vì thế, lực lượng lao động chuyển dịch mạnh từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp mà đa số dưới dạng không chính thức, tức là lao động phi nông nghiệp nhưng vẫn bằng lao động chân tay. Hiện tượng này đang thể hiện tư duy “công nghiệp hóa đồng nghĩa với việc loại bỏ nông nghiệp”, xa rời mục tiêu “công nghiệp hóa nông nghiệp”.
Sự chuyển dịch không đúng mục tiêu ấy cũng làm thay đổi diện mạo nông thôn. Nhiều vùng nông thôn đang dần mang dáng dấp “phố trong làng” với nhà ở, công trình xây dựng và các hoạt động dịch vụ ngày càng phổ biến. Cùng với sự thay đổi về không gian sống là sự thay đổi trong tư duy sản xuất “rời xa nông nghiệp”.
Một bộ phận người dân vốn từng gắn bó với đồng ruộng nay hình thành tư duy phi nông nghiệp. Họ có xu hướng cho rằng đầu tư vào nông nghiệp thiếu hiệu quả, trong khi làm công nghiệp, xây dựng hoặc các ngành nghề khác đem lại thu nhập nhanh và ổn định hơn.
Câu hỏi được đặt ra là một phần lớn lao động nông nghiệp đã chuyển dịch sang khu vực phi nông nghiệp nhưng không còn ai muốn ở lại để nâng cao chất lượng, năng suất, sản lượng nông nghiệp nhằm nâng cao thu nhập so với lao động phi nông nghiệp?
Đây là một vấn đề cần được nhìn nhận đầy đủ khi đánh giá tình trạng đất nông nghiệp bỏ hoang. Không thể chỉ nhìn hiện tượng từ góc độ người dân không muốn canh tác mà phải thấy phía sau đó là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, việc làm và giá trị sử dụng đất trong quá trình công nghiệp hóa.
Thực tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào nông nghiệp tại các tỉnh phía Bắc vẫn có nhưng chưa nhiều và chủ yếu tập trung ở một số địa bàn, dự án cụ thể, chưa tạo thành một dòng đầu tư đủ rộng để hình thành những vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn.
Trong khi đó, nông nghiệp Việt Nam vẫn đang chứng minh năng lực xuất khẩu với nhiều sản phẩm có chất lượng và được thị trường quốc tế ưa chuộng. Nhiều vùng trung du, miền núi đã hình thành những vùng sản xuất hàng hóa hiệu quả. Chẳng hạn, dâu tây trồng tại Sơn La có chất lượng tốt, được thị trường đón nhận khi xuất khẩu.
Vấn đề đặt ra là vì sao những vùng đồng bằng có điều kiện đất đai, hạ tầng và thị trường thuận lợi lại chưa phát huy tương xứng tiềm năng đất nông nghiệp? Câu hỏi này không chỉ liên quan đến sản xuất nông nghiệp mà còn liên quan trực tiếp đến cách thức tổ chức lại không gian phát triển.
Tính lại hiệu quả sử dụng đất
GS Đặng Hùng Võ cho biết, theo tinh thần Nghị quyết 21 của Trung ương về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan, yêu cầu đặt ra là phải tìm cách đưa đất đai vào sử dụng hiệu quả, bao gồm cả đất phi nông nghiệp và đất nông nghiệp đang bị bỏ hoang. Bởi mọi sự phát triển kinh tế đều bắt đầu từ việc sử dụng đất, tức là bắt đầu từ cách thức vốn hóa đất đai cơ bản nhất. Không thể có phát triển nếu nguồn lực đất đai không được khai thác hợp lý. Điều quan trọng nhất là phải hướng tới sử dụng đất với hiệu quả cao nhất.
Trên thế giới đã hình thành cách tiếp cận “sử dụng đất tốt nhất”, tức là khi một khu đất được đưa vào sử dụng thì phải xem xét phương án sử dụng nào tạo ra hiệu quả cao nhất, phù hợp nhất với điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực đó.
Cách tiếp cận này cũng có thể được đặt ra đối với đất nông nghiệp ở Việt Nam. Với một diện tích đất có độ màu mỡ nhất định, điều kiện thủy lợi, hạ tầng và khả năng tiếp cận thị trường nhất định, cần xác định được khả năng tạo ra năng suất, giá trị tương ứng.
Nếu đất có điều kiện tốt nhưng không được sử dụng hoặc sử dụng dưới khả năng vốn có thì đó không chỉ là câu chuyện của cá nhân người sử dụng đất mà còn là sự lãng phí một nguồn lực hạn chế để phát triển.
Ở nhiều nước, chính sách thuế cũng được xây dựng theo hướng khuyến khích sử dụng đất hiệu quả. Giá trị và hiệu quả sử dụng tốt nhất của đất đai trở thành một trong những căn cứ để nhà nước điều tiết nguồn lực này. Khi đất có khả năng tạo ra giá trị cao nhưng bị bỏ hoang hoặc sử dụng kém hiệu quả, người sử dụng phải chịu chi phí tương ứng. Đây là vấn đề Việt Nam cần suy nghĩ nghiêm túc trong quá trình hoàn thiện chính sách đất đai.
Không thể để một diện tích đất nông nghiệp có điều kiện sản xuất tốt bị bỏ hoang trong thời gian dài, trong khi nền nông nghiệp vẫn phải mở rộng sản xuất ở những khu vực có điều kiện khó khăn hơn để đáp ứng nhu cầu thị trường và xuất khẩu.
Đồng bằng sông Hồng cần được nhìn nhận lại, không chỉ với tư cách một vùng công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mà còn là một không gian phát triển nông nghiệp có giá trị cao.
Muốn vậy, trước hết phải tính toán lại hiệu quả sử dụng đất. Không phải diện tích đất nào cũng nhất thiết phải giữ nguyên phương thức sử dụng hiện tại, nhưng mỗi diện tích đất phải được đặt trong một bài toán tổng thể: sử dụng cho mục đích gì, theo phương thức nào, tạo ra giá trị bao nhiêu và đóng góp ra sao cho phát triển chung?
Không để đất tốt bị bỏ hoang
GS Đặng Hùng Võ cho rằng, một trong những vấn đề đáng quan tâm hiện nay là doanh nghiệp chưa thực sự mặn mà đầu tư vào nông nghiệp tại phía Bắc, trong đó có Đồng bằng sông Hồng. Trong khi đó, nông sản vẫn là một trong những nhóm sản phẩm quan trọng của nền kinh tế và đóng góp đáng kể vào xuất khẩu.
Điều này cho thấy bài toán không đơn giản là “có đất thì sản xuất”. Muốn đất nông nghiệp phát huy hiệu quả, phải có doanh nghiệp, vốn, công nghệ, thị trường, logistics, chế biến và một mô hình tổ chức sản xuất phù hợp.
Nếu chỉ yêu cầu người dân tiếp tục canh tác trên những thửa ruộng nhỏ lẻ, trong khi thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thấp hơn nhiều so với các công việc phi nông nghiệp, rất khó tạo động lực để người dân giữ đất và sản xuất.
Do đó, cần tạo ra một mô hình mới để nông nghiệp có thể cạnh tranh về hiệu quả kinh tế với các ngành nghề khác. Đây cũng là lý do cần tính lại bài toán phát triển, nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng. Công nghiệp hóa và đô thị hóa vẫn là xu hướng tất yếu, nhưng không đồng nghĩa với việc những diện tích đất nông nghiệp có giá trị bị bỏ hoang.
Do đó, cần phân tích kỹ lưỡng địa kinh tế để có được một quy hoạch sử dụng đất tốt nhất. Hãy phát triển hạ tầng giao thông để phát triển phi nông nghiệp, đô thị tại những khu vực có năng lực nông nghiệp kém, bảo vệ thật chặt chẽ đất đai đã được coi là “bờ xôi, ruộng mật” kể từ xa xưa dành cho nông nghiệp.
Một số khu công nghiệp gắn với các dự án đầu tư nước ngoài đã tạo ra kết quả tích cực. Nhưng bên cạnh việc phát triển công nghiệp, cần xác định những khu vực nào phù hợp để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hàng hóa, vùng nguyên liệu, chế biến nông sản và các chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại. Khi đó, đất nông nghiệp không chỉ được nhìn như tư liệu sản xuất truyền thống mà còn trở thành một bộ phận của chuỗi giá trị kinh tế mới.
Nghị quyết 21 đặt ra yêu cầu phải khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai. Từ yêu cầu đó, câu chuyện đất nông nghiệp bỏ hoang cần được nhìn ở tầm rộng hơn: Làm thế nào để mỗi diện tích đất được sử dụng theo phương án có hiệu quả cao nhất, phù hợp nhất với điều kiện thực tế và định hướng phát triển của vùng.
Đất đai là nguồn lực hữu hạn. Đất tốt mà bỏ hoang là một dạng lãng phí nguồn lực phát triển. Nhưng muốn khắc phục tình trạng này, không thể chỉ bằng mệnh lệnh hành chính hay yêu cầu người dân quay trở lại sản xuất. Cần tạo ra một hệ sinh thái đủ sức hấp dẫn để doanh nghiệp đầu tư, người dân tham gia và nông nghiệp có thể tạo ra thu nhập cạnh tranh với các ngành nghề phi nông nghiệp.
Đồng bằng sông Hồng đã bước vào một giai đoạn phát triển mới. Vì vậy, cũng cần một cách nhìn mới về đất đai. Không chỉ hỏi "đất đang được sử dụng vào mục đích gì", mà quan trọng hơn phải hỏi "đất có đang được sử dụng theo cách tốt nhất hay chưa?”. Đó chính là thước đo cần được đặt ra trong quá trình quản lý và khai thác nguồn lực đất đai, để đất thực sự trở thành động lực cho phát triển.
Công nghiệp hóa nông nghiệp dựa trên hai phương thức chủ yếu, một là nông nghiệp quy mô lớn, hai là nông nghiệp công nghệ cao. Giải pháp mang tính cội nguồn là nhà nước phải tính toán trợ giúp phát triển hạ tầng sản xuất nông nghiệp, các nhà khoa học nông nghiệp phải nghiên cứu về nông nghiệp chính xác, trí thức vùng nông thôn phải gánh vác sự sáng tạo ra máy móc cơ khi phục vụ sản xuất nông nghiệp, và điều quan trọng nhất là cơ chế để chia sẻ lợi ích và rủi ro trong hợp tác sản xuất nông nghiệp.