🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Nông nghiệp TP.HCM muốn xanh và thông minh phải đi cùng chuỗi giá trị

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Nông nghiệp TP.HCM muốn xanh và thông minh phải đi cùng chuỗi giá trị

Công nghệ, truy xuất nguồn gốc và sản xuất xanh chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với thị trường. TP.HCM cần liên kết chuỗi giá trị để phát triển nông nghiệp bền vững.

Liên kết phải bắt đầu từ yêu cầu của thị trường

TP.HCM bước vào giai đoạn phát triển nông nghiệp mới với một bài toán: vừa phải tạo ra sản phẩm an toàn, có giá trị cao, vừa sử dụng hiệu quả đất đai, nước và các nguồn lực trong điều kiện đô thị hóa. Không gian nông nghiệp của thành phố trải từ những vùng sản xuất tập trung đến khu vực ven đô và các khoảng không gian nhỏ trong đô thị. Một cách tổ chức sản xuất chung cho mọi nơi sẽ khó đáp ứng được sự khác biệt ấy.

Nông nghiệp thông minh, xanh và tuần hoàn vì vậy cần được hiểu như những yêu cầu gắn bó với nhau. Công nghệ và dữ liệu giúp quản lý quá trình sản xuất, kiểm soát chất lượng, sử dụng tài nguyên chính xác hơn. Sản xuất xanh hướng đến giảm tác động lên môi trường. Tư duy tuần hoàn tìm cách đưa phụ phẩm, chất thải trở lại quá trình sản xuất để giảm chi phí và tạo thêm giá trị. Nhưng một mô hình dù tiên tiến đến đâu cũng khó duy trì nếu sản phẩm không đáp ứng nhu cầu thị trường hoặc người sản xuất không có đầu ra ổn định.

Quyết định số 4514/QĐ-UBND ngày 22/7/2026 của UBND TP.HCM ban hành Chương trình phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đặt mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, bền vững, gắn với công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, sinh thái và liên kết vùng. Định hướng ấy đòi hỏi thành phố nhìn rộng hơn từng trang trại hay từng khâu sản xuất: giá trị nông sản còn được quyết định bởi tiêu chuẩn chất lượng, sơ chế, bảo quản, chế biến, vận chuyển và khả năng tiếp cận người mua.

Một chuỗi giá trị không hình thành chỉ bằng việc có người trồng và người mua. Liên kết thực chất phải trả lời được những câu hỏi ngay từ đầu: sản xuất loại sản phẩm nào, theo tiêu chuẩn gì, với sản lượng bao nhiêu, giao vào thời điểm nào và giá được xác định ra sao. Khi những điều kiện đó rõ ràng, người sản xuất mới có cơ sở đầu tư; hợp tác xã mới có thể tổ chức vùng nguyên liệu; doanh nghiệp mới chủ động kế hoạch thu mua, chế biến và tiêu thụ.

Nghị định số 98/2018/NĐ-CP tạo khung chính sách cho hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, với nhiều hình thức kết nối từ cung ứng vật tư, tổ chức sản xuất đến sơ chế, chế biến và tiêu thụ. Sự đa dạng ấy cho phép từng ngành hàng lựa chọn cách liên kết phù hợp. Tuy nhiên, hình thức chỉ có ý nghĩa khi đi cùng trách nhiệm cụ thể của các bên và cơ chế vận hành chặt chẽ.

Hợp đồng liên kết vì thế không nên dừng ở cam kết mua bán. Đó còn là căn cứ để thống nhất quy trình sản xuất, chất lượng, sản lượng, phương thức giao nhận và cách xử lý khi thị trường biến động hoặc một bên không thực hiện đúng thỏa thuận. Nếu những nội dung cốt lõi này thiếu rõ ràng, rủi ro dễ dồn về phía người sản xuất, còn chuỗi có thể đứt gãy ngay khi giá cả thay đổi.

Trong cấu trúc ấy, hợp tác xã có vai trò tập hợp nông dân, tổ chức sản xuất theo quy trình thống nhất và quản lý vùng nguyên liệu. Doanh nghiệp kết nối thị trường, đầu tư vào chế biến, phát triển sản phẩm và tổ chức tiêu thụ. Người nông dân trực tiếp tạo ra chất lượng sản phẩm. Các đơn vị khoa học, công nghệ và dịch vụ cung cấp giải pháp cho từng khâu. Chuỗi chỉ bền khi vai trò, lợi ích và rủi ro được phân chia minh bạch giữa những chủ thể này.

Đây cũng là điểm mấu chốt của chuyển đổi số trong nông nghiệp. Dữ liệu sản xuất, tem truy xuất hay nền tảng quản lý không thể tự tạo ra niềm tin nếu thông tin đầu vào thiếu chính xác và các bên không tuân thủ cùng một quy trình. Công nghệ cần phục vụ kiểm soát chất lượng, điều phối sản lượng và kết nối thị trường. Khi đó, đầu tư cho công nghệ mới gắn với hiệu quả kinh tế, thay vì trở thành một khoản chi riêng lẻ của từng cơ sở.

Chính sách hỗ trợ phải giúp chuỗi vận hành bền vững

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, căn cứ áp dụng chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản trên địa bàn TP.HCM là Nghị quyết số 496/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND Thành phố. Nghị quyết này quyết định áp dụng Nghị quyết số 21/2020/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (trước đây) trên địa bàn TP.HCM sau sắp xếp.

Theo chính sách được áp dụng, các nội dung hỗ trợ trải từ tư vấn xây dựng liên kết, đầu tư hạ tầng, máy móc, mô hình điểm, giống, vật tư, bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc đến áp dụng quy trình quản lý chất lượng. Phạm vi ấy cho thấy chính sách đã hướng đến nhiều mắt xích của chuỗi, thay vì chỉ hỗ trợ khâu sản xuất.

Vấn đề tiếp theo là đưa nguồn lực hỗ trợ đến đúng chỗ cần thiết. Một vùng nguyên liệu thiếu quy trình chung có thể cần hỗ trợ tổ chức sản xuất trước khi đầu tư thêm thiết bị. Một sản phẩm đã có chất lượng nhưng khó vào thị trường có thể cần cải thiện bảo quản, nhãn hiệu hoặc hệ thống phân phối. Chính sách chỉ tạo chuyển biến rõ rệt khi xác định được điểm nghẽn của từng chuỗi, lựa chọn khoản hỗ trợ phù hợp và theo dõi kết quả sau hỗ trợ.

Định hướng này càng quan trọng khi yêu cầu về sản xuất xanh, giảm phát thải và kinh tế tuần hoàn ngày càng rõ. Tái sử dụng phụ phẩm hay tiết kiệm tài nguyên cần được tính toán trong toàn bộ quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Nếu chi phí chuyển đổi chỉ đặt lên một nhóm nông dân, trong khi lợi ích được chia cho nhiều khâu, mô hình khó nhân rộng. Cơ chế liên kết phải tạo điều kiện để các bên cùng đầu tư và cùng hưởng giá trị tăng thêm.

Bên cạnh chính sách hiện hành, dự thảo chính sách về phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững đang đề cập những nội dung như quản trị vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chia sẻ lợi ích và rủi ro.

Những nội dung này vẫn đang trong quá trình xây dựng chính sách. Từ thực tiễn, điều cần quan tâm là nguồn lực hỗ trợ phải giúp hình thành những liên kết có tổ chức sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng và đầu ra cụ thể, thay vì chỉ dừng ở hợp đồng mua bán nông sản.

Đối với TP.HCM, phát triển nông nghiệp đô thị không đơn thuần là đưa thêm công nghệ vào ruộng vườn hoặc tạo ra vài mô hình xanh tiêu biểu. Điều cần xây dựng là năng lực tổ chức sản xuất phù hợp với từng không gian của thành phố, kết nối người làm nông với hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường.

Khi chuỗi giá trị vận hành minh bạch, công nghệ có nơi để phát huy tác dụng, phụ phẩm có cơ hội trở thành nguồn lực và sản phẩm chất lượng có đường đến người tiêu dùng. Đó là cơ sở để nông nghiệp thông minh, xanh và tuần hoàn đi từ định hướng vào thực tiễn sản xuất.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage