🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Nông sản Thanh Hóa tìm đường đi xa

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Nông sản Thanh Hóa tìm đường đi xa

Từ những vùng nguyên liệu còn manh mún, Thanh Hóa đang đặt mục tiêu tổ chức lại sản xuất, nâng giá trị, hình thành chuỗi hàng hóa lớn và chinh phục thị trường xuất khẩu.

Chiều ngày 30/9, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thanh Hóa vừa tổ chức Hội nghị nhằm triển khai các giải pháp phát triển nông sản chủ lực theo hướng hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo chuỗi giá trị, hướng tới xuất khẩu đến năm 2030.

Không chạy theo diện tích, phải tạo ra giá trị

Thanh Hóa có nền tảng để xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Giai đoạn 2021-2025, diện tích lúa gieo trồng bình quân đạt hơn 227.000 ha/năm, sản lượng khoảng 1,38 triệu tấn; vùng rau an toàn tập trung đạt hơn 14.000 ha; diện tích cây ăn quả đến năm 2025 đạt hơn 25.000 ha.

Nhưng quy mô ấy chưa đồng nghĩa với sức mạnh thị trường. Sản xuất vẫn còn manh mún; liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa rộng khắp; chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu còn hạn chế. Đây là “điểm nghẽn” không thể giải quyết bằng cách đơn thuần mở rộng diện tích.

Theo định hướng đến năm 2030, Thanh Hóa phấn đấu hình thành khoảng 50.000 ha lúa gạo liên kết, 15.000-16.000 ha rau màu liên kết và từ 18.000 ha cây ăn quả tập trung trở lên, gắn vùng nguyên liệu với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ. Nhưng nếu tư duy vẫn dừng ở chuyện có thêm bao nhiêu hecta, nguy cơ “lớn về diện tích, nhỏ về giá trị” vẫn hiện hữu.

Câu chuyện cây dứa ở xã Hà Long là một ví dụ. Ông Hoàng Anh Tuấn, Chủ tịch UBND xã Hà Long, cho biết địa phương hiện có hơn 700 ha dứa, cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế khá cao và góp phần nâng thu nhập cho người dân. Cùng với đó, mỗi năm xã sản xuất khoảng 200 ha nếp cái hoa vàng, trong đó một phần diện tích đã được doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu.

Thế nhưng, sản xuất dứa vẫn chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, dựa nhiều vào kinh nghiệm; đầu ra thiếu ổn định, phụ thuộc thương lái. Đã có thời điểm dứa chín nhưng không có người mua. Đặc biệt trong tháng 5 và 6 vừa qua, khi không có đơn vị thu mua, giá dứa xuống thấp, rủi ro dồn lên người trồng.

Một vùng nguyên liệu chỉ thực sự có giá trị khi phía sau nó là nhà máy, thị trường và một hợp đồng đủ sức giữ người nông dân ở lại với chuỗi.

Vì thế, Hà Long đang hướng tới việc củng cố liên kết ngay từ đầu vụ, thống nhất diện tích, sản lượng, tiêu chuẩn, thời gian thu hoạch và phương thức thu mua; đồng thời phát huy vai trò hợp tác xã trong tập hợp nông dân, xây dựng vùng nguyên liệu và kết nối doanh nghiệp. Địa phương cũng xác định không mở rộng diện tích tự phát nếu chưa xác định được đầu ra.

Đó không chỉ là giải pháp cho cây dứa. Đó là nguyên tắc cần được đặt lên hàng đầu đối với mọi ngành hàng chủ lực.

Liên kết phải đi đến nhà máy, thị trường và người tiêu dùng

Một trong những vấn đề đáng chú ý tại Hội nghị là tiếng nói từ doanh nghiệp. Bởi nếu Nhà nước tổ chức lại vùng sản xuất nhưng doanh nghiệp không tham gia đủ sâu, chuỗi giá trị khó có thể vận hành bền vững.

Ông Đỗ Minh Thủy, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần đầu tư phát triển VinaGreen, cho rằng hiệu quả kinh tế phải là nền móng của liên kết. Theo ông, nếu người nông dân sản xuất có hiệu quả, họ sẽ tự nguyện gắn bó; nếu không hiệu quả thì dù tuyên truyền nhiều cũng khó tạo được liên kết lâu dài.

Doanh nghiệp đề xuất hình thành các “Câu lạc bộ Đại điền”, gồm những hộ dân, cá nhân hoặc hợp tác xã tích tụ từ 5-10 ha trở lên, làm hạt nhân kết nối những hộ nhỏ lẻ xung quanh để hình thành vùng sản xuất tập trung, trực tiếp ký hợp đồng bao tiêu với nhà máy.

Điều quan trọng ở đây là thay đổi vai trò của các chủ thể trong chuỗi. Người dân vẫn giữ đất và tư liệu sản xuất; doanh nghiệp đưa khoa học công nghệ, vốn, quy trình canh tác vào đồng ruộng, đồng thời thu mua, bao tiêu để đưa nông sản vào chế biến và tiêu thụ.

Nhưng muốn chuỗi không bị đứt gãy, không thể chỉ lo khâu gieo trồng. Với lúa gạo, doanh nghiệp chỉ ra một “nút thắt” rất cụ thể: Vụ thu hoạch thường tập trung trong khoảng 20-25 ngày, trong khi công suất sấy của các nhà máy khó đáp ứng nếu thiếu hệ thống sấy tại địa phương. Lúa cần được sấy đạt độ ẩm dưới 14% trước khi bảo quản, chế biến nhằm hạn chế gãy hạt và giữ chất lượng.

Điều đó cho thấy muốn xuất khẩu nông sản, Thanh Hóa không thể chỉ đầu tư cho cánh đồng. Phải đầu tư cả những mắt xích nằm sau cánh đồng: máy sấy, kho bảo quản, sơ chế, chế biến, logistics, truy xuất nguồn gốc, thương hiệu và thị trường.

Tại hội nghị, doanh nghiệp cũng kiến nghị hỗ trợ vốn, lãi suất, đất đai cho các hợp tác xã, hộ đại điền đầu tư máy sấy; hỗ trợ giống lúa chất lượng; tạo điều kiện tiếp cận tín dụng ưu đãi; đồng thời có chính sách khuyến khích thanh niên tích tụ đất đai, khởi nghiệp nông nghiệp công nghệ cao.

Đây là những đề xuất chạm đúng vào vấn đề cốt lõi: muốn thay đổi phương thức sản xuất, người nông dân cần vốn; muốn nâng chất lượng, cần công nghệ; muốn bán được giá cao, cần chế biến; muốn bước ra thị trường quốc tế, cần tiêu chuẩn và khả năng truy xuất.

Kết luận hội nghị, ông Nguyễn Đức Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thanh Hóa, yêu cầu các địa phương rà soát, xác định rõ lợi thế cạnh tranh của từng vùng, không phát triển nông nghiệp theo phong trào; xây dựng vùng nguyên liệu tập trung; đưa giống mới, công nghệ hiện đại vào sản xuất; củng cố liên kết doanh nghiệp - hợp tác xã - người dân và lấy công nghiệp chế biến làm động lực định hướng vùng nguyên liệu.

Thông điệp “4 Không - 4 Phải” được đưa ra tại hội nghị thực chất là sự chuyển đổi cách nghĩ về nông nghiệp.

Không chạy theo diện tích, phải nâng cao giá trị. Không sản xuất bằng mọi giá, phải sản xuất theo nhu cầu thị trường. Không dừng ở sản xuất nông nghiệp đơn thuần, phải phát triển thành ngành kinh tế hàng hóa. Không dừng ở ký kết, phải biến cam kết thành chuỗi giá trị thực chất, bền vững.

Bởi xuất khẩu không bắt đầu ở cửa khẩu mà bắt đầu từ thửa ruộng. Từ cách người nông dân chọn giống, ghi chép quy trình, sử dụng vật tư; từ cách hợp tác xã tổ chức vùng nguyên liệu; cách doanh nghiệp đầu tư nhà máy; khả năng kiểm soát từng tiêu chuẩn của sản phẩm trước khi rời khỏi cánh đồng.

Nếu những mắt xích ấy không được nối lại, một mùa vụ bội thu đôi khi vẫn có thể trở thành nỗi lo đầu ra. Nhưng nếu chuỗi giá trị được tổ chức đủ chặt, cùng một diện tích đất ấy có thể tạo ra một giá trị hoàn toàn khác.

Và đó mới là phép đo thực chất của mục tiêu phát triển nông sản Thanh Hóa đến năm 2030, không phải làm cho những cánh đồng rộng hơn bằng mọi giá, mà làm cho giá trị từ mỗi cánh đồng đi được xa hơn.