🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Phát triển nông nghiệp sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Phát triển nông nghiệp sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang buộc nông dân thay đổi tư duy sản xuất, từ chạy theo sản lượng sang canh tác 'thuận thiên', sinh thái, giảm phát thải và tạo sinh kế bền vững.

"Thuận thiên" tạo sinh kế bền vững

Biến đổi khí hậu không còn là câu chuyện dự báo, mà đã hiện hữu từng ngày trên những cánh đồng vùng ĐBSCL, nhất là các khu vực ven biển, nơi canh tác còn nhiều khó khăn. Xâm nhập mặn sâu hơn, hạn hán gay gắt hơn, lũ thất thường hơn và đa dạng sinh học ngày càng suy giảm.

Trong bối cảnh đó, nông nghiệp không thể tiếp tục đi theo lối cũ là cố gắng chống lại tự nhiên bằng mọi giá. Một hướng đi mới đang dần hình thành, đó là phát triển nông nghiệp sinh thái, thuận theo quy luật tự nhiên để thích ứng và phát triển bền vững.

Tại vùng ven biển An Giang, mô hình lúa - tôm đang cho thấy hiệu quả rõ nét như một lời giải phù hợp trước sức ép biến đổi khí hậu. Nếu trước đây, mỗi mùa khô đến, người dân lại tất bật đắp bờ, giữ ngọt để cố trồng lúa liên tục, thì nay tư duy ấy đã thay đổi.

Người dân không còn xem nước mặn là “kẻ thù”, ra sức ngăn mặn xâm nhập, mà coi đó là điều kiện sản xuất mới. Mùa khô, nước mặn theo thủy triều vào đồng trở thành môi trường lý tưởng để nuôi tôm nước lợ. Khi mùa mưa đến, nước ngọt trở về, đồng ruộng được rửa mặn để bắt đầu vụ lúa mới. Chu kỳ sản xuất ấy không cưỡng lại mà hòa nhịp cùng tự nhiên.

Chính sự thay đổi tư duy này giúp người dân giảm đáng kể rủi ro sản xuất. Tôm nuôi trong môi trường gần tự nhiên ít dịch bệnh, ít phụ thuộc thức ăn công nghiệp. Sau vụ tôm, lớp bùn hữu cơ, xác vi sinh vật và các dưỡng chất tự nhiên trở thành nguồn dinh dưỡng quý cho vụ lúa tiếp theo. Nhờ đó, người dân giảm mạnh chi phí phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và công chăm sóc. Điều quan trọng hơn, đất đai được nghỉ ngơi, tái tạo thay vì bị khai thác liên tục.

Ông Đặng Thanh Phong, Phó Chi cục trưởng Phụ trách Chi cục Trồng trọt và BVTV An Giang cho biết, diện tích canh tác theo mô hình lúa - tôm của tỉnh khoảng 100.000 ha, trong đó diện tích đủ điều kiện luân canh lại vụ lúa gần 75.000 ha. Mặc dù năng suất lúa - tôm không cao như vùng chuyên canh, nhưng giá bán cao hơn nhờ sản xuất theo hướng sạch, sinh thái. Với con tôm, phương thức nuôi quảng canh giúp giảm chi phí, chất lượng sản phẩm tốt hơn.

Không chỉ dừng ở hiệu quả kinh tế, mô hình lúa - tôm còn hình thành một hệ sinh thái sản xuất khép kín. Vụ tôm bổ trợ cho vụ lúa. Vụ lúa lại giúp cải thiện môi trường cho vụ tôm. Hai đối tượng hỗ trợ lẫn nhau, tạo vòng tuần hoàn sinh học tự nhiên. Trong bối cảnh khí hậu ngày càng cực đoan, tính thích ứng ấy trở thành lợi thế lớn. Nếu một đối tượng gặp bất lợi, người dân vẫn còn nguồn thu từ đối tượng còn lại.

Từ câu chuyện lúa - tôm có thể thấy, nông nghiệp sinh thái không đồng nghĩa với giảm hiệu quả kinh tế. Ngược lại, đây là mô hình sản xuất thông minh, thuận tự nhiên, giúp gia tăng giá trị trên cùng diện tích đất, giảm chi phí đầu vào và nâng cao sức chống chịu trước biến động khí hậu.

Phục hồi “di sản sống” của đồng ruộng

Nếu vùng ven biển chọn mô hình lúa - tôm để thích ứng với xâm nhập mặn, thì vùng đầu nguồn An Giang lại đang hồi sinh một “di sản sống” gắn với mùa nước nổi, đó là giống lúa mùa nổi tồn tại hàng trăm năm qua . Có thời điểm, vùng Tứ giác Long Xuyên từng có hàng trăm nghìn ha lúa mùa nổi. Đây là giống lúa đặc biệt có thể vươn cao theo mực nước lũ từ 3-5 m. Không cần phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, cây lúa mùa nỗi sống nhờ phù sa và quy luật tự nhiên.

Nhưng cùng với quá trình thâm canh nông nghiệp, những cánh đồng lúa mùa nổi dần biến mất. Giống lúa bản địa quý giá ấy có lúc chỉ còn tồn tại trên vài chục ha nhỏ lẻ. Để bảo tồn, hàng chục năm qua, các nhà khoa học của của Trường Đại học An Giang đã bền bỉ đi tìm lại những giống lúa mùa nổi từ trong ký ức và trên những cánh đồng lẻ loi của vùng Tứ giác Long Xuyên. Các nhà khoa học đã triển khai nghiên cứu, bảo tồn, phục tráng và phát triển cây lúa nổi tại xã Vĩnh Gia (An Giang) vùng được quy hoạch bảo tồn lúa nổi truyền thống.

Vừa qua, UBND xã Vĩnh Gia phối hợp với Trường Đại học An Giang tổ chức lễ ra mắt Hợp tác xã Lúa mùa nổi Vĩnh Gia và ký kết hợp tác liên kết “4 nhà”. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng mở ra hướng đi mới cho việc bảo tồn, phát triển lúa mùa nổi, loại “di sản sống” gắn với văn minh mùa nước nổi vùng Tứ giác Long Xuyên.

Sự ra đời của Hợp tác xã Lúa mùa nổi Vĩnh Gia không chỉ là sự hình thành của một đơn vị kinh tế tập thể, mà còn là sự xác lập của “liên minh tri thức và trách nhiệm” nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của lúa mùa nổi, di sản nông nghiệp đặc sắc của vùng ĐBSCL.

Ông Dương Minh Giang, Giám đốc Hợp tác xã Lúa mùa nổi Vĩnh Gia nhấn mạnh, lúa mùa nổi “di sản sống” của cha ông đang thực sự hồi sinh trên chính những cánh đồng quê hương và trở thành niềm tự hào của người dân Vĩnh Gia. Sự trở lại của lúa mùa nổi hôm nay không đơn thuần là phục hồi một giống cây trồng, mà là phục hồi tư duy nông nghiệp sinh thái.

Lúa mùa nổi không cạnh tranh bằng sản lượng. Giá trị của nó nằm ở chất lượng sinh thái, giá trị văn hóa, khả năng thích ứng tự nhiên và tiềm năng thị trường. Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến gạo sạch, gạo sinh thái, những hạt gạo được nuôi dưỡng bằng phù sa, không hóa chất, đang mở ra cơ hội thị trường rất lớn.

Điều đặc biệt là mô hình này còn tạo ra hệ sinh thái đa giá trị. Không chỉ sản xuất nông nghiệp, vùng lúa mùa nổi còn có thể gắn với du lịch sinh thái, trải nghiệm văn hóa mùa nước nổi, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế cộng đồng.

Không riêng An Giang, tại Đồng Tháp, mô hình lúa sinh thái ở vùng đệm Vườn quốc gia Tràm Chim đang mở ra một hướng đi đầy cảm hứng. Ở đây, nông dân không chỉ trồng lúa để làm kinh tế, mà còn góp phần bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước, tạo môi trường để sếu đầu đỏ trở lại.

Từ phương thức sản xuất truyền thống sử dụng nhiều phân thuốc, người dân chuyển sang giảm lượng giống, không đốt rơm rạ, xử lý sinh học, hạn chế tối đa hóa chất độc hại. Cách làm ấy giúp giảm chi phí, cải tạo đất, giảm phát thải khí nhà kính và tạo môi trường sống thân thiện hơn cho các loài chim quý hiếm. Năng suất lúa có thể giảm nhẹ, nhưng chi phí đầu vào giảm mạnh, lợi nhuận lại cao hơn.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, tư duy “thuận thiên” không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu sống còn. Từ lúa - tôm vùng ven biển, lúa mùa nổi vùng đầu nguồn đến lúa sinh thái gắn bảo tồn đa dạng sinh học, tất cả đều cho thấy một điểm chung, đó là sản xuất nông nghiệp phải biết lắng nghe tự nhiên.

Phát triển nông nghiệp sinh thái chính là cách để bảo vệ đất đai, nguồn nước, môi trường, đồng thời tạo ra những sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao hơn, an toàn hơn và bền vững hơn. Quan trọng hơn, đó là con đường để người nông dân không chỉ thích ứng với biến đổi khí hậu, mà còn chủ động biến thách thức thành cơ hội phát triển.