Quảng Ngãi: 68% công trình cấp nước nông thôn kém bền vững hoặc ngừng hoạt động

Quảng Ngãi có 1.046 công trình cấp nước nông thôn, nhưng gần 68% hoạt động kém bền vững hoặc ngừng vận hành, khiến hiệu quả đầu tư chưa tương xứng nhu cầu sử dụng.
Công trình nhiều, hiệu quả khai thác thấp
Theo Bộ chỉ số Theo dõi - Đánh giá nước sạch nông thôn tỉnh Quảng Ngãi năm 2025 được UBND tỉnh này phê duyệt vào tháng 6/2026, tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh trên địa bàn đạt 99,74%. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn chỉ đạt 62,07%. Trong đó, nước từ công trình cấp nước tập trung chiếm 22,95%, còn nguồn cấp nước quy mô hộ gia đình chiếm 39,12%.
Kết quả đánh giá 1.046 công trình cấp nước sạch nông thôn cho thấy, 39 công trình hoạt động bền vững, 296 công trình tương đối bền vững. Có tới 343 công trình hoạt động kém bền vững và 368 công trình không hoạt động, chiếm gần 68% tổng số công trình. Tỷ lệ đấu nối bình quân chỉ đạt 42,6%.
Những con số này cho thấy sự chênh lệch giữa đầu tư hạ tầng và hiệu quả khai thác công trình cấp nước nông thôn ở Quảng Ngãi. Mặc dù hạ tầng đã được đầu tư nhưng khả năng khai thác chưa tương xứng, nhiều công trình chưa phát huy hiệu quả, trong khi người dân vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn nước sạch đạt quy chuẩn.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi, một trong những nguyên nhân là công tác quản lý, vận hành sau đầu tư còn hạn chế. Một số công trình được bàn giao cho địa phương nhưng thiếu nhân lực có chuyên môn, chưa xây dựng quy chế hoạt động, phương án giá và cơ chế thu tiền nước. Thiếu nguồn kinh phí duy tu, bảo dưỡng khiến công trình hư hỏng, xuống cấp, thậm chí ngừng hoạt động trong thời gian dài.
Bất cập cũng xuất hiện từ khâu đầu tư. Một số công trình chưa được khảo sát, thiết kế phù hợp với điều kiện thực tế, dẫn đến thiếu nguồn nước hoặc thường xuyên hư hỏng do lũ lụt, sạt lở. Mạng lưới cấp nước chưa đáp ứng nhu cầu tại nhiều khu vực. Ở miền núi, dân cư phân tán khiến chi phí đầu tư và vận hành cao.
Trong khi đó, tỷ lệ đấu nối thấp làm giảm hiệu quả khai thác công trình. Công tác tuyên truyền, vận động người dân sử dụng nước sạch chưa thường xuyên; một bộ phận người dân chưa mặn mà đấu nối, khiến công suất khai thác thực tế không tương xứng với thiết kế. Nguồn nước mặt, nước ngầm suy giảm vào mùa khô càng gây thêm áp lực cho hoạt động cấp nước.
Không để công trình tiếp tục xuống cấp
Năm 2026, Quảng Ngãi đặt mục tiêu nâng tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn lên 63,6%; năm 2027 dự kiến đạt 65,2%. Để thực hiện mục tiêu, tỉnh đã đề xuất 7 dự án cấp nước nông thôn giai đoạn 2026-2030, tổng công suất dự kiến 9.940 m³/ngày đêm, kinh phí khoảng 221 tỷ đồng.
Trong đó, 5 dự án tại xã Bình Sơn; khu vực Nghĩa Hành - Đình Cương - Phước Giang; xã Tịnh Khê; xã Long Phụng và xã Đăk La đã được bố trí vốn chuẩn bị đầu tư trong năm 2026. Các dự án dự kiến triển khai giai đoạn 2026-2028, với tổng công suất khoảng 7.740 m³/ngày đêm và tổng mức đầu tư dự kiến 175 tỷ đồng.
Tuy nhiên, bên cạnh đầu tư mới, yêu cầu cấp thiết là rà soát toàn bộ công trình hiện có, xác định rõ nguyên nhân hoạt động kém hiệu quả để sửa chữa, khôi phục hoặc tổ chức lại quản lý. Việc bố trí vốn cần gắn với nhu cầu sử dụng thực tế, khả năng khai thác nguồn nước và phương án vận hành sau đầu tư.
Đối với 29 công trình do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh quản lý, đang phục vụ khoảng 26.156 hộ, đơn vị tiếp tục duy trì cấp nước, sửa chữa hạng mục xuống cấp và rà soát khả năng mở rộng mạng lưới.
Ngành chức năng cũng cần phối hợp với chính quyền địa phương vận động người dân đấu nối, sử dụng nước sạch; đồng thời xây dựng cơ chế thu tiền nước phù hợp để tạo nguồn kinh phí vận hành, bảo dưỡng công trình.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.