Trồng cà phê xen canh hướng đến giảm phát thải

Từ trồng xen canh, tạo nhiều tầng tán và duy trì thảm thực vật đang được áp dụng trong các vườn cà phê, mở thêm hướng canh tác gắn với mục tiêu giảm phát thải.
Lợi ích kép từ trồng xen trong vườn cà phê
Giảm phát thải đang trở thành một hướng được đặt ra trong sản xuất cà phê, từ thay đổi vật tư đầu vào đến tổ chức lại hệ thống canh tác. Trong đó, nông lâm kết hợp, tăng cây trồng xen và duy trì nguồn hữu cơ trong vườn là những cách tiếp cận đang được nghiên cứu, áp dụng nhằm hướng tới sản xuất bền vững và cố định các-bon.
Giữa những hàng cà phê ở Ea Kao, tỉnh Đắk Lắk, mặt đất không được làm sạch cỏ như nhiều vườn cây khác. Lớp thực vật phía dưới vẫn được giữ lại, đến từng thời điểm mới cắt. Phần cỏ sau đó nằm lại trên mặt đất. Phía trên những cây cà phê là các tầng cây che bóng và cây trồng xen cùng sinh trưởng. Đây là cách ông Lê Đình Tư lựa chọn khi tổ chức lại khu vườn của mình theo hướng đa tầng tán.
Trước khi gắn với sản xuất cà phê, ông có hơn 10 năm làm việc trong lĩnh vực phân bón. Trên khoảng 9ha hiện nay, cà phê không phải loại cây duy nhất được bố trí trong vườn. Cây che bóng, cây ăn quả cùng cà phê tạo thành nhiều tầng cây, trong khi lớp cỏ phía dưới tiếp tục được duy trì.
Khoảng 8 năm trước, khi xác định phát triển cà phê cao cấp và cà phê đặc sản, cách tổ chức vườn này bắt đầu được thực hiện và đồng hành với một số người trồng cà phê. Thay vì loại bỏ hoàn toàn cỏ trong vườn, cỏ được để phát triển rồi cắt theo từng chu kỳ. Phần sinh khối sau khi cắt được giữ lại, tạo thêm nguồn hữu cơ ngay trên mặt đất.
Các tầng cây trong vườn được bố trí để cùng tồn tại với cà phê. Phía trên tạo thành những tầng tán khác nhau, phía dưới là lớp thực vật che phủ mặt đất. Cỏ sau khi cắt tiếp tục được giữ lại trong vườn. Cách làm này tạo thêm nguồn hữu cơ, bảo vệ lớp đất mặt và hỗ trợ vườn trong những thời điểm thời tiết khác nhau.
Từ thực tế sản xuất, đa tầng tán còn giúp hạn chế rửa trôi trong mùa mưa và bảo vệ vườn trong mùa nắng. Tuy nhiên, khi hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0, thay đổi kỹ thuật mới chỉ là một phần. Người trực tiếp sản xuất phải hiểu được vấn đề và nhìn thấy giá trị kinh tế từ sự thay đổi đó.
“Để thực hiện được, chúng ta cần làm cho những người tham gia, đặc biệt là người nông dân, hiểu rõ về vấn đề này. Đồng thời, phải có những chính sách rất rõ ràng, hỗ trợ phát triển cây nông nghiệp, cây cà phê nói riêng và các loại cây trồng khác, làm sao tăng được giá trị của nông sản. Lúc đó người dân mới đồng thuận tham gia. Khi xác định làm cà phê cao cấp và cà phê đặc sản, chúng tôi đã đồng hành với người nông dân, hỗ trợ và hướng dẫn họ tạo những vườn đa tầng tán, để lại cỏ rồi cắt theo từng chu kỳ.
Cách làm này tạo một lượng hữu cơ đáng kể, làm cho môi trường trong vườn thông thoáng, sạch hơn và nâng cao chất lượng sản phẩm theo hướng an toàn, chất lượng cao hơn. Đa tầng tán hỗ trợ rất tốt trong quá trình bảo vệ môi trường, bảo vệ chất lượng sản phẩm, bảo đảm sức khỏe cho cây trồng và giảm được một số loại bệnh trong vườn cà phê, đặc biệt trong mùa nắng. Đa tầng tán cũng giúp bảo vệ vườn tốt hơn trong mùa nắng, mùa mưa, hạn chế rửa trôi”, ông Tư chia sẻ.
Tại các mô hình nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, hiệu quả của việc trồng xen trong vườn cà phê cũng đang được theo dõi. Anh Ma Lực, người trực tiếp chăm sóc một số mô hình trong khoảng 2 năm qua, nhận thấy sự khác biệt rõ nhất vào mùa khô.
“Khu vực có trồng xen giữ ẩm tốt hơn. Bên không trồng xen, khi thiếu nước cây dễ rụng lá, trong khi bên có cây trồng xen cây xanh và phát triển tốt hơn. Số lần tưới cũng giảm, bên kia khoảng 5 đợt thì bên này khoảng 3 đợt”, anh Lực cho biết.
Từ thực tế tại những khu vườn này, cây cà phê đang được đặt trong một hệ thống có thêm các tầng cây và thảm thực vật phía dưới. Việc tổ chức lại vườn không chỉ liên quan đến cây trồng chính mà còn gắn với cách sử dụng nước, duy trì nguồn hữu cơ và bảo vệ đất trong quá trình sản xuất.
Theo ThS Đỗ Văn Chung, Phó Trưởng bộ môn thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, giai đoạn 2021-2023, đơn vị đã tham gia thực hiện dự án khuyến nông quốc gia với 30ha cà phê canh tác theo hướng hữu cơ tại Tây Nguyên và Sơn La.
Từ những mô hình này, người sản xuất từng bước tiếp cận phương thức canh tác giảm sử dụng phân bón hóa học, tăng các sản phẩm hữu cơ và hữu cơ vi sinh.
“Đây là hướng để người trồng cà phê từng bước tiếp cận sản xuất sạch, giảm phát thải khí nhà kính thông qua giảm phân bón hóa học và tăng cường sử dụng các sản phẩm hữu cơ”, ông Chung cho biết.
Việc sử dụng phân bón hợp lý, dựa trên tình trạng đất và nhu cầu thực tế của cây trồng, hiện cũng được Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên tăng cường chuyển giao thông qua các hoạt động phân tích đất và hướng dẫn kỹ thuật cho người dân. Đây được xem là một trong những giải pháp quan trọng để vừa giảm chi phí đầu vào, vừa hướng đến chuỗi giá trị cà phê xanh và giảm phát thải.
Không chỉ là câu chuyện các-bon
Trồng xen, nông lâm kết hợp hay nông nghiệp tái sinh đang được nhìn nhận như những hướng đi có thể góp phần gia tăng khả năng thu nhận và cố định carbon trong hệ thống sản xuất. Tuy nhiên, từ một mô hình kỹ thuật đến một ngành hàng giảm phát thải là khoảng cách không nhỏ.
Theo TS Phan Việt Hà, Quyền Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên cho rằng, các giải pháp giảm phát thải hiện vẫn chủ yếu được triển khai thông qua sự phối hợp với tổ chức quốc tế hoặc những doanh nghiệp có chiến lược đầu tư dài hạn.
Điểm khó hiện nay không chỉ là áp dụng kỹ thuật mà còn là làm sao đo đếm được lượng giảm phát thải, xác định giá trị các-bon và xây dựng cơ chế kinh tế đủ hấp dẫn để người nông dân tham gia.
“Mô hình nông lâm kết hợp và nông nghiệp tái sinh có thể góp phần cố định các-bon. Nhưng cần tính toán kỹ để các thành phần trong hệ thống hỗ trợ lẫn nhau, không ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và đặc biệt là thu nhập của người dân”, TS Phan Việt Hà phân tích.
Đây cũng là vấn đề cốt lõi của quá trình chuyển đổi. Người nông dân khó có thể thay đổi phương thức sản xuất chỉ vì một mục tiêu dài hạn nếu chưa nhìn thấy lợi ích trước mắt. Giảm chi phí nước tưới, giảm lượng phân bón, cải thiện sức khỏe đất, ổn định năng suất và nâng cao giá trị hạt cà phê chính là những động lực thực tế để mô hình có thể được nhân rộng.
Từ những vườn cà phê đa tầng tán ở Ea Kao đến các mô hình nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, một hướng đi đang dần hiện rõ: giảm phát thải không phải là câu chuyện tách rời sản xuất mà cần bắt đầu ngay từ cách tổ chức khu vườn.
Một nền cà phê xanh không chỉ được đo bằng lượng các-bon giảm đi. Điều quan trọng hơn là xây dựng được những hệ thống canh tác sử dụng ít tài nguyên hơn, thích ứng tốt hơn với khí hậu và tạo ra giá trị cao hơn cho người trồng.