🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Xuất khẩu

Để Việt Nam có thêm những ngành hàng rau quả tỷ USD

Cập nhật: Báo Nông nghiệp và Môi trường
Để Việt Nam có thêm những ngành hàng rau quả tỷ USD

Để Việt Nam có thêm những ngành hàng rau quả tỷ USD

LTS:Ngày 2/11, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Bộ Công an (Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 57 Trung ương) tổ chức Hội nghị Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp - khu vực phía Nam.Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng, Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long chủ trì hội nghị.

Địa điểm: Khách sạn TTC Cần Thơ, số 2 đường Hai Bà Trưng, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Quý vị tham dự trực tuyến qua nền tảng zoom, địa chỉ I

D: 953 4152 3720. Passcode: HN3010.Nhân sự kiện này, ông Phạm Quốc Liêm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Tổng Giám đốc Unifarm có bài viết “Để Việt Nam có thêm những ngành hàng rau quả tỷ USD”. Báo Nông nghiệp và Môi trường giới thiệu tới quý độc giả.

Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt khoảng 8,6 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đạt 7,28 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ; cả năm được dự báo có thể đạt 9,5-10 tỷ USD.

Bên cạnh những mặt hàng xuất khẩu chủ lực như sầu riêng, chuối, thanh long, xoài và mít, Việt Nam còn nhiều ngành hàng giàu tiềm năng như chanh leo, dứa và bưởi. Để vượt mốc 10 tỷ USD và hướng tới những mục tiêu cao hơn, ngành rau quả Việt Nam cần phát triển thêm những ngành hàng xuất khẩu tỷ USD, có năng lực cạnh tranh bền vững trên thị trường quốc tế. Trong đó, khoa học công nghệ và chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ cần trở thành hai động lực phát triển chủ yếu.

Ngành chuối: Tiềm năng tỷ USD từ diện tích hiện có

Việt Nam hiện có khoảng 163.000 ha chuối, nhưng kim ngạch xuất khẩu năm 2025 mới đạt gần 420 triệu USD. Nếu tính theo sản lượng chuối thương phẩm xuất khẩu bình quân 50 tấn/ha và giá xuất khẩu bình quân 510 USD/tấn, giá trị này tương đương sản lượng của khoảng 16.500 ha, tức chỉ bằng 10% tổng diện tích chuối cả nước.

Để đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD, ngành chuối cần thực hiện đồng thời ba giải pháp: chuẩn hóa khoảng 24.000 ha vùng trồng đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, tương đương 15% diện tích cả nước; nâng sản lượng thương phẩm xuất khẩu bình quân lên 60 tấn/ha; đồng thời nâng giá xuất khẩu bình quân lên khoảng 700 USD/tấn thông qua cải thiện chất lượng và phát triển các thị trường có giá trị cao.

Xa hơn, nếu chuẩn hóa được 30% diện tích chuối hiện có, tương đương khoảng 49.000 ha, kim ngạch xuất khẩu có thể vượt 2 tỷ USD, tạo cơ sở để Việt Nam tiến gần hơn đến nhóm các quốc gia xuất khẩu chuối hàng đầu thế giới.

Câu chuyện ngành chuối cũng phản ánh tiềm năng của nhiều ngành hàng rau quả Việt Nam: giá trị xuất khẩu có thể tăng trưởng mạnh mà không nhất thiết phải mở rộng tương ứng diện tích canh tác. Vấn đề cốt lõi là nâng tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn xuất khẩu, tăng năng suất thương phẩm và giá trị trên cùng một đơn vị diện tích thông qua khoa học công nghệ và tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết.

Giống cây trồng - Lợi thế cạnh tranh chiến lược

Giống cây trồng là một trong những yếu tố nền tảng quyết định năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng với điều kiện sản xuất và sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và dịch bệnh ngày càng phức tạp, việc làm chủ những giống cây trồng có đặc tính vượt trội có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh chiến lược cho cả một ngành hàng.

Thời gian qua, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó nghiên cứu và phát triển giống cây trồng được xác định là một nhiệm vụ quan trọng đến năm 2030. Đây là định hướng cần thiết để nâng cao năng lực tự chủ về khoa học công nghệ trong nông nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh đầu tư nghiên cứu những giống mới, Việt Nam cũng cần có cơ chế đánh giá và công nhận những giống cây trồng đã chứng minh hiệu quả trong thực tiễn, đặc biệt là những giống có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh chiến lược cho ngành hàng ở quy mô quốc gia.

Một ví dụ là giống chuối Uni126 do Unifarm nghiên cứu, phát triển từ năm 2018. Qua quá trình khảo nghiệm và sản xuất thực tế tại các vùng đất có tiền sử nhiễm bệnh, giống Uni126 cho thấy khả năng chống chịu bệnh héo vàng Panama TR4 đạt 95-98%, đồng thời duy trì các đặc tính thương phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

Panama TR4 là một trong những dịch bệnh nguy hiểm nhất đối với ngành chuối toàn cầu, trong khi các giải pháp kiểm soát bệnh vẫn còn nhiều hạn chế. Việc làm chủ một giống chuối có khả năng chống chịu tốt, đồng thời đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, không chỉ giúp giảm rủi ro sản xuất mà còn có thể tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài cho ngành chuối Việt Nam.

Từ thực tiễn đó, cần xây dựng cơ chế đánh giá, công nhận những giống cây trồng đã chứng minh hiệu quả và có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh chiến lược cho ngành hàng là sản phẩm công nghệ chiến lược. Cơ chế này cần độc lập với các chương trình đặt hàng nghiên cứu giống mới, đồng thời đi kèm chính sách hỗ trợ bảo hộ sở hữu trí tuệ, thương mại hóa và mở rộng ứng dụng trong sản xuất.

Đây là cách phát huy kịp thời những thành tựu khoa học công nghệ mà Việt Nam đã làm chủ, thay vì chỉ trông chờ vào kết quả của các chương trình nghiên cứu trong tương lai.

Doanh nghiệp đầu tàu và bài toán liên kết bền vững

Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hành lang pháp lý và các chính sách hỗ trợ vẫn chưa đủ hiệu quả để bảo đảm các bên thực hiện đầy đủ trách nhiệm và cam kết.

Việt Nam không thiếu những doanh nghiệp nông nghiệp có năng lực về tài chính, khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất, quản lý chất lượng và phát triển thị trường. Nhiều doanh nghiệp cũng sẵn sàng chuyển giao công nghệ, liên kết với hợp tác xã và nông dân để hình thành những vùng nguyên liệu lớn, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

Trong thực tế, các mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân vẫn có nguy cơ bị phá vỡ khi thị trường biến động. Nông dân có thể bán sản phẩm ra ngoài khi giá tăng, trong khi doanh nghiệp có thể không thực hiện cam kết thu mua khi thị trường khó khăn. Những rủi ro này không chỉ gây thiệt hại cho các bên mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định của vùng nguyên liệu, chất lượng sản phẩm và uy tín của ngành hàng trên thị trường quốc tế.

Vì vậy, để phát triển chuỗi liên kết bền vững, không thể chỉ dựa vào thiện chí hoặc những thỏa thuận song phương, mà rất cần có cơ chế chính sách đủ hiệu quả để gắn kết lợi ích, trách nhiệm và cam kết của các thành phần tham gia.

Trước mắt, mỗi ngành hàng rau quả có tiềm năng xuất khẩu lớn cần có ít nhất một mô hình liên kết thí điểm do doanh nghiệp đầu tàu dẫn dắt. Việc lựa chọn doanh nghiệp đầu tàu phải dựa trên những tiêu chí rõ ràng về năng lực tài chính, khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất, quản lý chất lượng và phát triển thị trường.

Trong các mô hình này, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo cơ chế, điều phối và hỗ trợ, đặc biệt là chính sách tín dụng ưu đãi cho các thành phần tham gia chuỗi trên cơ sở hợp đồng liên kết với doanh nghiệp đầu tàu. Chính sách hỗ trợ cần gắn với các điều kiện cụ thể về trách nhiệm, nghĩa vụ và việc thực hiện cam kết, đồng thời bảo đảm yêu cầu quản lý rủi ro tín dụng.

Cách tiếp cận này sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp phát huy vai trò dẫn dắt, hợp tác xã và nông dân tiếp cận tốt hơn với công nghệ, nguồn vốn và thị trường, đồng thời hình thành những vùng nguyên liệu có quy mô, chất lượng và sản lượng ổn định.

Những doanh nghiệp có năng lực và kinh nghiệm trong các ngành hàng như Unifarm với chuối hay Doveco với dứa có thể tham gia các mô hình thí điểm. Hiệp hội Rau quả Việt Nam cũng có thể phối hợp với các cơ quan quản lý trong việc lựa chọn doanh nghiệp đầu tàu và thúc đẩy triển khai.

Đừng để hạ tầng sau thu hoạch trở thành điểm nghẽn

Theo các quy định pháp luật về đất đai, UBND cấp tỉnh được giao thẩm quyền quy định diện tích đất nông nghiệp được sử dụng để xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, quy định giữa các địa phương còn khác biệt đáng kể.

Chẳng hạn, Quyết định số 90/2024/QĐ-UBND của TP.HCM, được ban hành trước khi sắp xếp địa giới hành chính, quy định diện tích đất xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp không quá 1% tổng diện tích đất nông nghiệp và tối đa chỉ 50 m². Trong khi đó, Quyết định số 52/2026/QĐ-UBND của tỉnh Tây Ninh cho phép xây dựng tối đa 500 m² đối với thửa đất từ 5 ha trở lên và đến 5.000 m² đối với nhiều thửa đất liền kề có tổng diện tích từ 30 ha trở lên.

Sự khác biệt này cho thấy một số địa phương đã chủ động tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn. Tuy nhiên, dù có thông thoáng hơn về diện tích, công trình vẫn bị giới hạn một tầng, chiều cao đỉnh mái tối đa 5 m, không có tầng hầm và phải có kết cấu bán kiên cố.

Trong khi đó, các cơ sở sơ chế, đóng gói và bảo quản nông sản ngày càng phải đáp ứng những yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc, với các hệ thống quản lý như GMP, HACCP hay ISO 22000. Để vận hành hiệu quả, các cơ sở này cần có diện tích, chiều cao và kết cấu phù hợp với dây chuyền công nghệ và quy mô vùng nguyên liệu.

Nếu quy mô công trình bị giới hạn quá mức, hoạt động sau thu hoạch có thể trở thành nút thắt cổ chai của cả chuỗi sản xuất. Hệ quả không chỉ là tăng chi phí mà còn làm giảm khả năng duy trì chất lượng, tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn và năng lực đáp ứng đơn hàng xuất khẩu.

Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế cho phép xây dựng các công trình sơ chế, đóng gói và bảo quản nông sản phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên đất nông nghiệp mà không phải chuyển mục đích sử dụng đất, với quy mô và kết cấu phù hợp yêu cầu công nghệ, đồng thời bảo đảm các điều kiện về môi trường, an toàn và sử dụng đất đúng mục đích.

Khoa học công nghệ không chỉ nằm ở giống cây trồng hay kỹ thuật canh tác. Công nghệ sau thu hoạch cũng giữ vai trò quyết định trong việc chuyển hóa sản lượng nông nghiệp thành giá trị thương mại. Nếu thiếu hạ tầng phù hợp, những tiến bộ trong sản xuất khó có thể phát huy đầy đủ hiệu quả.

Năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đang tiến gần mốc 10 tỷ USD. Để hướng đến mục tiêu tham vọng hơn, ngành rau quả không thể chỉ dựa vào mở rộng diện tích hay những cơ hội thị trường nhất thời. Điều quan trọng hơn là hình thành thêm những ngành hàng xuất khẩu tỷ USD dựa trên giống cây trồng có lợi thế cạnh tranh, chuỗi liên kết bền vững và hạ tầng sản xuất – sau thu hoạch đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế.

Khi những thành tựu khoa học công nghệ được đưa vào sản xuất trên quy mô lớn, năng lực của doanh nghiệp được lan tỏa đến hợp tác xã và nông dân, đồng thời các rào cản về cơ chế chính sách được tháo gỡ, ngành rau quả Việt Nam sẽ có nền tảng vững chắc để nâng cao sức cạnh tranh, gia tăng giá trị xuất khẩu và cải thiện thu nhập, đời sống của người nông dân.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage