🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Khoa học công nghệ mở đường cho thủy sản tăng trưởng bền vững

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Khoa học công nghệ mở đường cho thủy sản tăng trưởng bền vững

Ngành thủy sản đang chuyển mạnh từ tăng trưởng chiều rộng sang nâng cao năng suất, chất lượng nhờ vào áp dùng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Công nghệ tạo động lực nâng cao giá trị thủy sản

Ngày 2/11, tại TP Cần Thơ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an, cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 57 Trung ương, tổ chức hội nghị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư.

Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng từ 8,89 tỷ USD năm 2021 lên 11,28 tỷ USD năm 2025. Trong đó, nuôi trồng thủy sản đóng góp khoảng 7 tỷ USD, chiếm 61,9% giá trị xuất khẩu. Tôm và cá tra tiếp tục là hai ngành hàng chủ lực, đạt tổng kim ngạch 6,84 tỷ USD.

Thời gian qua, khoa học công nghệ được ứng dụng ngày càng rộng trong sản xuất giống, nuôi trồng, khai thác, bảo quản và chế biến thủy sản. Ngành đã thẩm định, công nhận 59 quy trình công nghệ, ban hành 50 tiêu chuẩn quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật liên quan.

Nhiều kết quả nghiên cứu giống góp phần cải thiện năng suất và khả năng kháng bệnh. Điển hình, giống cá tra PanGI2 có tốc độ tăng trưởng cao hơn 20% so với giống gốc; một số dòng cá tra kháng bệnh gan thận mủ được phát triển. Công nghệ chọn lọc tôm càng xanh cũng giúp cải thiện hiệu quả chọn giống trên 20%.

Các mô hình nuôi thâm canh, siêu thâm canh, nuôi nhiều giai đoạn, biofloc và tuần hoàn nước từng bước được ứng dụng, góp phần tiết kiệm tài nguyên, kiểm soát môi trường và giảm chi phí.

Song song đó, chuyển đổi số được xác định là giải pháp quan trọng để minh bạch chuỗi cung ứng, nâng cao hiệu quả quản lý và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Thực tiễn tại TP Cần Thơ cho thấy chuyển đổi số đang được đẩy mạnh gắn với quản lý vùng nuôi. Theo ông Phạm Quang Vinh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản TP Cần Thơ, thành phố có hơn 96.500 ha nuôi thủy sản, khả năng cung ứng gần 737.000 tấn sản phẩm mỗi năm. Năm 2025, giá trị xuất khẩu thủy sản đạt hơn 2,1 tỷ USD, chiếm gần 19% giá trị xuất khẩu thủy sản cả nước.

Năm 2026, Cần Thơ bước đầu số hóa bản đồ vùng nuôi cá tra với 348 cơ sở, đồng thời dự kiến mở rộng số hóa đến hơn 38.000 cơ sở nuôi tôm nước lợ trong năm 2027. Thành phố cũng số hóa dữ liệu tại 38 điểm quan trắc, cảnh báo chất lượng môi trường nước và triển khai cảm biến IoT theo dõi các chỉ số môi trường.

Gỡ điểm nghẽn, phát triển chuỗi giá trị bền vững

Đối với tôm nước lợ, năm 2025, cả nước có 755.400 ha nuôi, sản lượng hơn 1,4 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu khoảng 4,65 tỷ USD. ĐBSCL chiếm 93,2% diện tích và 87,2% sản lượng tôm nước lợ cả nước.

Tuy nhiên, việc quản lý mã số cơ sở nuôi còn hạn chế. Trong tổng số 340.765 cơ sở nuôi tôm thuộc diện phải đăng ký, mới có 83.468 cơ sở được cấp mã số trong năm 2025, đạt khoảng 24,5%. Đây là điểm nghẽn cần sớm khắc phục để chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc.

Với cá tra, năm 2025, sản lượng đạt khoảng 1,74 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu ước 2-2,2 tỷ USD. Đến ngày 30/9/2026, diện tích nuôi đạt khoảng 5.100 ha, sản lượng khoảng 1,5 triệu tấn. Trên 86% cơ sở nuôi đã đăng ký, tương ứng hơn 90% diện tích nuôi; mỗi ao được cấp mã số nhận diện phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Dù vậy, ngành cá tra vẫn cần nâng chất lượng giống, tối ưu hệ số chuyển đổi thức ăn, kiểm soát môi trường và phát triển chế biến sâu.

Trong tám tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc đạt 417 triệu USD, tăng 29%; Brazil đạt 124 triệu USD, tăng 8%. Ngược lại, xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 203 triệu USD, giảm 13%, cho thấy yêu cầu đa dạng hóa thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh vẫn rất cấp thiết.

Đối với nuôi biển, sản lượng năm 2025 ước đạt 859.200 tấn, tăng trưởng bình quân khoảng 8,5% mỗi năm trong giai đoạn 2020-2025; giá trị xuất khẩu vượt 1 tỷ USD.

Tại khu vực phía Nam, An Giang có nhiều lợi thế phát triển nuôi tôm, cá tra và nuôi biển. Sau sáp nhập, tỉnh có vùng biển rộng khoảng 63.290 km², bờ biển dài hơn 200 km cùng hơn 140 hòn đảo lớn, nhỏ. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển cá biển lồng bè, nhuyễn thể, trai ngọc và các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao.

Ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, cho biết: Ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là hướng đi quan trọng nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng biển, đảo, nâng cao giá trị thủy sản và tạo sinh kế ổn định cho người dân.

Phát triển nuôi biển cần gắn với tổ chức lại sản xuất, quản lý vùng nuôi bằng dữ liệu, bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực tiếp cận thị trường. Tỉnh xác định đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao công nghệ theo nhu cầu thực tế; phát triển giống chất lượng cao, mô hình nuôi biển công nghệ cao và nuôi xa bờ, đồng thời tăng cường số hóa dữ liệu cơ sở nuôi, quản lý môi trường và truy xuất nguồn gốc.

Thực tế, sản lượng nuôi biển của An Giang tăng từ 69.269 tấn giai đoạn năm 2021 lên khoảng 133.000 tấn trong năm 2026. Số lồng nuôi cá tăng từ 3.612 lên khoảng 6.115 lồng; diện tích nuôi nhuyễn thể tăng từ 20.203 ha lên khoảng 24.950 ha.

Để thúc đẩy đầu tư công nghệ, An Giang đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 5 doanh nghiệp nuôi biển công nghệ cao, với tổng diện tích hơn 2.908 ha và vốn đầu tư 1.116 tỷ đồng.

Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu đạt sản lượng nuôi biển 250.000 tấn hải sản, phát triển 14.000 lồng nuôi, trong đó khoảng 6.600 lồng ứng dụng công nghệ cao; diện tích nuôi nhuyễn thể đạt khoảng 26.900 ha. Tầm nhìn đến năm 2045, An Giang hướng tới xây dựng trung tâm nuôi biển hiện đại, xanh, thông minh và bền vững.

Ông Trần Thanh Hiệp nhấn mạnh, bên cạnh đầu tư công nghệ, cần thúc đẩy liên kết giữa người nuôi và doanh nghiệp, áp dụng quy trình sản xuất có chứng nhận, chuyển đổi lồng nuôi phù hợp và xây dựng chuỗi tiêu thụ ổn định. Những giải pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm rủi ro và gia tăng giá trị thủy sản.

Theo ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, ngành thủy sản đã phát triển về quy mô, nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế nhưng vẫn tồn tại những hạn chế về liên kết chuỗi, chất lượng đầu vào, kiểm soát chi phí, công nghệ và truy xuất nguồn gốc.

Ông Luân cho rằng, tăng trưởng giai đoạn tới không thể chỉ dựa vào mở rộng diện tích và sản lượng mà phải tập trung nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Các nhiệm vụ khoa học công nghệ cần xuất phát từ những điểm nghẽn thực tế của từng ngành hàng, xác định rõ đơn vị thực hiện và khả năng ứng dụng vào sản xuất.

Trọng tâm là nâng cao chất lượng giống, giảm chi phí thức ăn và vật tư, kiểm soát dịch bệnh, phát triển công nghệ nuôi công nghiệp, nuôi biển xa bờ, cải thiện bảo quản và chế biến sâu. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

"Chuyển đổi số cũng phải mang lại lợi ích thiết thực cho người nuôi, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Dữ liệu vùng nuôi, môi trường và truy xuất nguồn gốc cần được chuẩn hóa, cập nhật thường xuyên và kết nối đồng bộ.

Khi khoa học công nghệ giải quyết trực tiếp những vấn đề về chi phí, dịch bệnh, chất lượng và minh bạch nguồn gốc, ngành thủy sản sẽ có thêm động lực nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng thị trường và phát triển bền vững", ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư nói.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage