Một ha tôm công nghệ cao ở Vĩnh Long có thể đạt 60 tấn

Nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao đạt năng suất 40-60 tấn/ha, cao gấp 3-4 lần nuôi truyền thống, mở hướng phát triển vùng nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu.
Ngày 28/8, Chi cục Thủy sản và Biển đảo Vĩnh Long cho biết, các mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh đang cho hiệu quả vượt trội, với năng suất cao hơn nhiều lần so với hình thức nuôi truyền thống.
Theo đó, năng suất bình quân của các vùng nuôi tôm công nghệ cao đạt từ 40-60 tấn/ha, trong khi mô hình nuôi truyền thống chỉ đạt khoảng 10-15 tấn/ha. Nhờ kiểm soát tốt môi trường ao nuôi, chủ động phòng ngừa dịch bệnh và ứng dụng khoa học kỹ thuật, mô hình này giúp nâng sản lượng trên cùng diện tích đất nuôi.
Đáng chú ý, dù diện tích nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao hiện chiếm khoảng 32,35% diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng, nhưng lại đóng góp tới 56,68% sản lượng tôm thẻ chân trắng và 54,03% tổng sản lượng tôm nước lợ của toàn tỉnh.
Hiệu quả của mô hình đến từ việc ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật trong quản lý sản xuất. Người nuôi có thể theo dõi, kiểm soát các yếu tố quan trọng như chất lượng nước, hàm lượng oxy hòa tan, môi trường ao nuôi, từ đó hạn chế rủi ro dịch bệnh, giảm chi phí và rút ngắn thời gian nuôi.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Vĩnh Long có 6.325 ha nuôi tôm thâm canh mật độ cao, sản lượng đạt khoảng 61.000 tấn. Các vùng nuôi tập trung tại những địa phương ven biển như Tân Thủy, Bảo Thạnh, Thới Thuận, Thạnh Phước, Thạnh Phong và Thạnh Hải. Nhiều khu vực đã được đầu tư đồng bộ về thủy lợi, điện ba pha, giao thông nội vùng, tạo điều kiện hình thành chuỗi liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến.
Theo kế hoạch, đến cuối năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu phát triển hơn 8.175 ha vùng nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao, tăng hơn 675 ha so với năm 2025. Các địa phương ven biển sẽ được ưu tiên thu hút doanh nghiệp đầu tư, hình thành những vùng nuôi tập trung quy mô lớn gắn với chuỗi giá trị.
Cùng với mở rộng diện tích, tỉnh cũng định hướng đẩy mạnh chuyển đổi số, quan trắc môi trường, truy xuất nguồn gốc và phát triển các mô hình nuôi tuần hoàn, ít phát thải nhằm nâng cao chất lượng con tôm, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu.