Quản lý mã số vùng trồng siết chặt, thúc đẩy chuẩn hóa truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam - Tạp chí Kinh tế

Quản lý mã số vùng trồng siết chặt, thúc đẩy chuẩn hóa truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam
Quản lý mã số vùng trồng siết chặt, thúc đẩy chuẩn hóa truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam
Trong bối cảnh thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu truy xuất nguồn gốc, công tác quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến tháng 5/2026, cả nước đã có 9.546 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu các loại quả tươi như thanh long, xoài, vú sữa, chuối, bưởi, chanh leo, nhãn, vải, ớt, thạch đen… sang các thị trường lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Dù đạt được số lượng đáng kể, thực tế cho thấy hệ thống mã số vẫn chưa đồng đều giữa các địa phương và chưa theo kịp yêu cầu quản lý mới. Tại các vùng sản xuất trọng điểm, việc duy trì mã số vùng trồng được xác định là yếu tố sống còn để giữ vững xuất khẩu chính ngạch. Tại Sơn La với hơn 85.500 ha cây ăn quả và 35.000 ha cà phê Arabica đang tập trung duy trì 216 mã số vùng trồng hiện có, đồng thời rà soát, cấp mới nhằm phục vụ các thị trường chủ lực, đặc biệt là Trung Quốc.
Tại Đắk Lắk, địa phương có thế mạnh về cây ăn quả và sầu riêng, hiện có 328 mã số vùng trồng với gần 9.700 ha được cấp mã. Riêng sầu riêng chiếm tới 277 mã số với diện tích khoảng 7.500 ha. Tuy nhiên, nếu toàn bộ hồ sơ đang chờ phê duyệt được thông qua, diện tích đạt chuẩn mã số có thể tăng lên hơn 10.000 ha, đây mới chỉ đạt khoảng 40% tổng diện tích cho thu hoạch, điều này cho thấy dư địa mở rộng vẫn còn lớn nhưng chưa được khai thác tương xứng.
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, số lượng mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và cơ sở kiểm nghiệm hiện vẫn còn hạn chế so với quy mô sản xuất và nhu cầu xuất khẩu. Đáng chú ý, chỉ trong giai đoạn 2025 - 2026, đã có 403 mã số vùng trồng và 240 mã số cơ sở đóng gói bị cảnh báo không tuân thủ từ thị trường Trung Quốc, phản ánh rõ những bất cập trong khâu duy trì điều kiện kỹ thuật sau cấp mã. Bên cạnh đó, công tác kiểm nghiệm an toàn thực phẩm và năng lực quản lý tại một số địa phương còn chưa đồng đều, gây khó khăn trong việc đảm bảo tính thống nhất của hệ thống.
Hiện, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, tạo khung pháp lý quan trọng trong quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Nghị định quy định rõ trách nhiệm từ khâu cấp mã, kiểm tra thực địa đến giám sát, cảnh báo và thu hồi mã số vi phạm, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về truy xuất nguồn gốc.
Đáng chú ý, tư duy quản lý đang chuyển mạnh từ “cấp nhiều mã số” sang “duy trì mã số bền vững”, đặt trọng tâm vào chất lượng vùng nguyên liệu và khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng. Hệ thống truy xuất nguồn gốc thí điểm đối với sầu riêng cũng đã được triển khai, hướng tới áp dụng đồng bộ từ giữa năm 2026.
Các chuyên gia nhận định, truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu bắt buộc của thị trường mà còn là nền tảng để xây dựng nền nông nghiệp minh bạch, hiện đại và có trách nhiệm hơn. Khi hệ thống quản lý mã số vùng trồng được chuẩn hóa và vận hành hiệu quả, nông sản Việt Nam sẽ có thêm dư địa nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trên thị trường quốc tế.