🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Tây Ninh phát triển dịch vụ nông thôn gắn với sản xuất xanh

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Tây Ninh phát triển dịch vụ nông thôn gắn với sản xuất xanh

Từ nhu cầu thu gom bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, Tây Ninh từng bước tổ chức các dịch vụ hỗ trợ sản xuất, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Dịch vụ từ nhu cầu của vùng sản xuất

Cùng với phát triển sản xuất, nhu cầu về các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp tại khu vực nông thôn ngày càng đa dạng. Không chỉ cung ứng giống, vật tư, cơ giới hóa hay tiêu thụ nông sản, việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải phát sinh trong sản xuất cũng trở thành một khâu cần thiết.

Tại Tây Ninh, việc tổ chức thu gom bao gói thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sau sử dụng đang từng bước được hình thành từ chính nhu cầu thực tế của các vùng sản xuất.

Sau mỗi vụ, trên một số cánh đồng vẫn xuất hiện chai, lọ, bao bì thuốc BVTV nằm rải rác ven bờ ruộng, kênh, mương. Thực tế cho thấy, sau khi phun thuốc, vẫn còn trường hợp người dân tiện tay bỏ bao bì ngay tại đồng ruộng hoặc xuống kênh, rạch.

Bao gói thuốc BVTV sau sử dụng không phải phế liệu thông thường. Trong chai, lọ, túi đựng thuốc có thể còn tồn dư hóa chất. Nếu vứt bỏ trên đồng ruộng, các chất này có nguy cơ phát tán vào đất, nguồn nước; việc tự ý đốt hoặc chôn lấp cũng có thể gây tác động bất lợi đến môi trường.

Những năm gần đây, Tây Ninh đã triển khai nhiều điểm, bể chứa bao gói thuốc BVTV sau sử dụng tại các vùng sản xuất.

Theo Kế hoạch số 1248/KH-UBND ngày 5/3/2026 của UBND tỉnh về thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng, tỉnh đặt mục tiêu năm 2026 thu gom 80% tổng lượng phát sinh và đến năm 2030 đạt 100%. Đối với các xã xây dựng nông thôn mới, yêu cầu 100% bao gói thuốc BVTV sau sử dụng được thu gom, vận chuyển và xử lý đúng quy định.

Theo ông Trần Khắc Phục, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, người sử dụng thuốc BVTV có trách nhiệm thu gom bao gói sau sử dụng, không trộn lẫn với rác thải sinh hoạt hoặc chất thải nông nghiệp khác. Bao gói phải được đưa vào bể chứa hoặc thùng chứa chuyên dụng do địa phương bố trí.

UBND cấp xã có trách nhiệm quản lý bể, thùng chứa; tổ chức thu gom định kỳ và đưa về điểm tập kết để lưu giữ, sau đó chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý chất thải nguy hại. Việc chuyển giao được thực hiện tối thiểu 2 lần mỗi năm hoặc khi bể chứa đầy.

Địa phương phải ký hợp đồng với đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại. Bể chứa phải có thể tích tối thiểu 1m³, có mái che, nền chống thấm, không bị ngập úng và đặt cách xa khu dân cư, nguồn nước sinh hoạt, trường học, chợ, cơ sở y tế. Mỗi xã, phường phải bố trí tối thiểu 2 điểm tập kết.

Như vậy, từ nhu cầu xử lý chất thải ngay trên đồng ruộng, các khâu tiếp nhận, tập kết, thu gom, vận chuyển đến xử lý đang từng bước được tổ chức, trở thành một phần dịch vụ hỗ trợ sản xuất tại khu vực nông thôn.

Tổ chức lại đầu mối phục vụ nông dân

Thực tế kiểm tra, giám sát cho thấy việc thu gom, lưu giữ và xử lý bao gói thuốc BVTV tại một số địa phương vẫn còn những điểm nghẽn.

Theo ông Trần Khắc Phục, một số địa phương bố trí điểm, bể thu gom nhưng chưa khảo sát đầy đủ về vị trí, phạm vi phục vụ, mật độ sản xuất, tuyến đường vận chuyển và khả năng quản lý. Có điểm đặt quá xa khu vực sản xuất nên người dân ít sử dụng; ngược lại, một số điểm gần đường dân sinh, khu dân cư lại bị sử dụng như nơi tập kết rác công cộng.

Tại một số bể chứa, biển hướng dẫn chưa rõ ràng, bể không có nắp đậy hoặc mái che; chưa xác định cụ thể tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm quản lý, vệ sinh và theo dõi thường xuyên.

Bao gói thuốc BVTV còn bị bỏ lẫn với rác sinh hoạt, bao bì phân bón, chai nhựa, túi nylon, hộp xốp, chai lọ thuốc thú y, cành cây, đất, bùn... gây khó khăn cho phân loại, kiểm đếm, đóng gói và bàn giao cho đơn vị xử lý.

Một số nơi, chất thải tồn lưu tại bể trong thời gian dài do việc thu gom chưa thường xuyên. Một số bể xây dựng từ nhiều năm trước đã xuống cấp, nứt, vỡ, mất nắp hoặc hư hỏng biển báo.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, những bất cập trên xuất phát từ việc chưa xác định rõ đầu mối quản lý từng điểm thu gom; việc tuyên truyền, hướng dẫn người dân chưa đầy đủ; lịch thu gom chưa gắn với mùa vụ và lượng phát sinh thực tế. Nguồn kinh phí dành cho thu gom, vận chuyển, xử lý chưa ổn định, trong khi sự tham gia của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV, hợp tác xã, tổ hợp tác và tổ chức nông dân còn hạn chế.

Để khắc phục, Sở Nông nghiệp và Môi trường đề nghị UBND các xã, phường rà soát toàn bộ hệ thống điểm, bể thu gom hiện có. Những điểm hoạt động hiệu quả, được quản lý và chuyển giao xử lý thường xuyên tiếp tục duy trì; những điểm không còn phù hợp phải được sửa chữa, di dời hoặc chấm dứt hoạt động.

Đáng chú ý, ngành Nông nghiệp và Môi trường đề xuất nghiên cứu mô hình tiếp nhận bao gói thuốc BVTV sau sử dụng tại các cơ sở kinh doanh thuốc BVTV, hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc những địa điểm có tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý.

Đây cũng là hướng đưa điểm tiếp nhận đến gần hơn với người sản xuất. Các đầu mối ổn định, thuận tiện sẽ giúp người dân đưa bao gói sau sử dụng đến đúng nơi quy định, đồng thời thuận lợi cho thống kê, kiểm tra, thu gom và xử lý.

Thay vì chỉ dựa vào các bể chứa phân tán ngoài đồng ruộng, việc phát huy vai trò của hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở kinh doanh vật tư có thể giúp hoạt động thu gom gắn chặt hơn với vùng sản xuất và nhu cầu của nông dân.

Xã hội hóa dịch vụ gắn với sản xuất xanh

Trong những tháng còn lại của năm 2026, các xã, phường được yêu cầu rà soát lượng bao gói thuốc BVTV phát sinh trên địa bàn, đồng thời phối hợp với địa phương lân cận lựa chọn đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại.

Trên cơ sở khối lượng phát sinh và điều kiện giao thông, các địa phương có thể phối hợp xây dựng tuyến, lịch trình thu gom liên xã, phường, qua đó giảm chi phí vận chuyển, xử lý và hạn chế chất thải tồn lưu tại các bể chứa.

Sở Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp nghiên cứu, huy động và lồng ghép các nguồn kinh phí hợp pháp để hỗ trợ địa phương thực hiện thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng, trong đó có nguồn kinh phí hỗ trợ xử lý chất thải theo Nghị định số 110/2026/NĐ-CP khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.

Từ năm 2027 và những năm tiếp theo, các xã, phường được yêu cầu chủ động bố trí kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường trong dự toán ngân sách hằng năm để quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng cùng chất thải nguy hại phát sinh từ hộ gia đình.

Cùng với nguồn lực nhà nước, Tây Ninh hướng tới tăng cường sự tham gia của các chủ thể trong sản xuất nông nghiệp. Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV được khuyến khích tham gia theo hướng xã hội hóa, thông qua những mô hình như “Đổi bao gói lấy quà”, “Thu gom đổi vật tư nông nghiệp” hoặc hình thức phù hợp khác.

Cách làm này vừa tạo thêm kết nối giữa doanh nghiệp với người sản xuất, vừa góp phần hình thành thói quen thu gom bao gói ngay sau khi sử dụng.

Song song đó, công tác tuyên truyền tiếp tục được xác định là khâu quan trọng. Người sử dụng thuốc BVTV phải được hướng dẫn bao gói sau sử dụng không được tái sử dụng, bán phế liệu, tự ý đốt hoặc chôn lấp mà phải thu gom riêng và đưa vào đúng nơi quy định.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Lâm yêu cầu các sở, ngành, địa phương và tổ chức liên quan tăng cường phối hợp, nâng cao trách nhiệm trong toàn bộ quá trình từ sử dụng, thu gom đến vận chuyển, xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng.

Từ những bể chứa ven cánh đồng đến các đầu mối tiếp nhận tại cơ sở kinh doanh, hợp tác xã, tổ hợp tác và tuyến thu gom liên xã, việc thu gom bao gói thuốc BVTV đang được tổ chức theo hướng ngày càng sát với nhu cầu của vùng sản xuất.

Khi có sự tham gia của người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và chính quyền địa phương, dịch vụ thu gom, xử lý chất thải nông nghiệp không chỉ góp phần giải quyết vấn đề môi trường mà còn hỗ trợ thay đổi phương thức sản xuất, giảm tác động đến đất và nguồn nước, hướng tới nông nghiệp an toàn, xanh và bền vững.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage