Tháo gỡ điểm nghẽn nghiên cứu giống, truy xuất nguồn gốc lúa gạo

Nghiên cứu giống, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc là những khâu then chốt để nâng giá trị hạt gạo và thúc đẩy Đề án 1 triệu ha giảm phát thải tại ĐBSCL.
Đưa nghiên cứu giống đến đồng ruộng, tăng khả năng thương mại hóa
Ngày 2/11, tại TP Cần Thơ, Hội nghị phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp khu vực phía Nam đã tập trung thảo luận các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời, đề xuất đẩy mạnh nghiên cứu giống, xác thực dữ liệu canh tác, truy xuất nguồn gốc và tăng cường liên kết chuỗi giá trị lúa gạo.
Theo ông Thòn, dù Việt Nam thuộc nhóm quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, giá trị gia tăng của ngành hàng, khả năng định giá sản phẩm và lợi ích của nông dân, doanh nghiệp vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Một trong những nguyên nhân là kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa hiệu quả; việc bảo hộ giống, kiểm chứng chất lượng và liên thông dữ liệu trong chuỗi sản xuất còn hạn chế.
Từ thực tế này, Lộc Trời xác định hai khâu cần ưu tiên tháo gỡ là nghiên cứu, sản xuất giống và bảo vệ quyền đối với giống cây trồng; đồng thời kiểm soát chất lượng, xác thực dữ liệu canh tác và truy xuất nguồn gốc xuyên suốt chuỗi giá trị.
Giống tốt tạo nền tảng nâng cao chất lượng lúa gạo, nhưng để phát huy hiệu quả, quá trình sản xuất phải được tổ chức theo quy trình thống nhất, vật tư có nguồn gốc rõ ràng và dữ liệu được kiểm chứng. Đây cũng là cơ sở để sản phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Theo ông Huỳnh Văn Thòn, một điểm nghẽn đáng chú ý hiện nay là khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tế của thị trường. Dẫn số liệu được Bộ Công an công bố ngày 27/10/2026, ông cho biết trong 451 sản phẩm khoa học, công nghệ nông nghiệp được tổng hợp từ 34 địa phương, có 341 sản phẩm, tương đương khoảng 76%, vẫn trong giai đoạn nghiên cứu.
Thực tế này cho thấy việc triển khai nhiệm vụ khoa học cần gắn với đơn vị tiếp nhận, phương án sản xuất và đầu ra thương mại ngay từ đầu. Bên cạnh đó, quá trình chọn tạo giống đòi hỏi nhiều năm nghiên cứu và nguồn vốn lớn. Nếu tình trạng giống giả, giống kém chất lượng hoặc nhân giống thương mại xâm phạm quyền đối với giống cây trồng không được kiểm soát hiệu quả, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thu hồi vốn, giảm động lực đầu tư cho nghiên cứu và phát triển giống mới.
Từ thực tiễn hoạt động, Lộc Trời cho biết đã xây dựng hệ sinh thái sản xuất nông nghiệp gồm Viện Nghiên cứu Nông nghiệp, 6 nhà máy giống, hệ thống sản xuất vật tư nông nghiệp, 5 nhà máy chế biến lúa gạo cùng lực lượng kỹ thuật “3 Cùng” trực tiếp đồng hành với nông dân.
Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Lộc Trời có 4 phòng thí nghiệm, trong đó một phòng được công nhận theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025; ngân hàng nguồn gen lưu giữ khoảng 3.000 giống, dòng lúa và có 20 ha đất thực nghiệm. Hệ thống 6 nhà máy giống có công suất chế biến khoảng 55.000 tấn giống xác nhận mỗi năm. Giai đoạn 2021-2026, doanh nghiệp có 7 giống lúa với 14 quyết định công nhận lưu hành theo vùng, bao gồm cả các quyết định gia hạn.
Với nền tảng này, ông Thòn đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu giống theo nhu cầu thực tiễn, tạo điều kiện để viện nghiên cứu công lập, tư nhân, trường đại học và doanh nghiệp tham gia bình đẳng theo quy định. Ngay từ khi đặt hàng cần xác định đơn vị tiếp nhận, tiêu chí khoa học, phương án thương mại hóa và đánh giá hiệu quả ứng dụng sau nghiệm thu.
Cùng với đó, công tác khuyến nông cần phối hợp doanh nghiệp tổ chức trình diễn giống xác nhận, hướng dẫn kỹ thuật gieo sạ hợp lý và tiết giảm chi phí. Việc phát triển giống phải gắn với quy trình canh tác, hợp đồng liên kết và phương án thu mua trong vùng nguyên liệu của Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Truy xuất nguồn gốc, tạo nền tảng cho chuỗi lúa gạo minh bạch
Trong khi đó, dữ liệu nhật ký canh tác, mã truy xuất và thông tin vùng trồng còn phân tán ở nhiều hệ thống. Nếu thông tin khai báo không được đối chiếu với dữ liệu quản lý và kiểm tra thực địa, doanh nghiệp sẽ phải tăng chi phí xác minh, khó chứng minh chất lượng sản phẩm với đối tác thu mua.
Từ kinh nghiệm triển khai thực tế, Lộc Trời cho biết hệ thống nhật ký canh tác điện tử của doanh nghiệp đã được tích lũy khoảng 13 năm, ghi nhận thông tin người sản xuất, thửa ruộng, mùa vụ, giống và vật tư sử dụng. Tại những vùng có dữ liệu đầy đủ, doanh nghiệp có thể truy xuất ngược từ lô gạo đến hộ sản xuất, thửa ruộng trong tối đa 4 giờ.
Doanh nghiệp cũng từng tổ chức vùng nguyên liệu với quy mô lên đến 180.000 ha, kết hợp lực lượng “3 Cùng” hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra đồng ruộng và kết nối quy trình canh tác với các khâu sản xuất vật tư, chế biến gạo. Qua 8 vụ trong giai đoạn 2020-2023, mô hình canh tác bền vững ghi nhận mức tiết giảm chi phí bình quân khoảng 2,72 triệu đồng/ha/vụ, trong khi năng suất tương đương phương thức canh tác thông thường.
Để nâng hiệu quả quản lý, ông Thòn kiến nghị Bộ Công an phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn thí điểm xác thực người sản xuất qua VNeID, liên kết thông tin thửa ruộng, vùng trồng và mùa vụ với hệ thống dữ liệu của doanh nghiệp theo quy định, bảo đảm an toàn thông tin cá nhân.
Đồng thời, cần kết nối dữ liệu nhật ký canh tác, vùng nguyên liệu với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia; nghiên cứu tem xác thực điện tử đối với phân bón, thuốc bảo vệ thực vật để hỗ trợ nhận diện sản phẩm và cảnh báo dấu hiệu bất thường. Tuy nhiên, mã QR chỉ là công cụ cung cấp thông tin, không thay thế việc kiểm tra, xác minh chất lượng của cơ quan có thẩm quyền.
Lộc Trời cũng đề xuất phát huy vai trò của chính quyền cấp xã trong xác minh vùng trồng, phối hợp với lực lượng khuyến nông, doanh nghiệp và hợp tác xã hướng dẫn nông dân sử dụng giống đạt chuẩn, vật tư rõ nguồn gốc và thực hiện nhật ký canh tác số. Việc kiểm tra cần có trọng điểm, dựa trên mức độ rủi ro, qua đó giảm chi phí giám sát và nâng cao tính tuân thủ.
Gắn với Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở ĐBSCL, Lộc Trời đăng ký tổ chức sản xuất 100.000 ha đến năm 2030, tương đương 10% mục tiêu diện tích của Đề án. Doanh nghiệp dự kiến phối hợp chính quyền địa phương, hợp tác xã và nông dân tổ chức sản xuất trên diện tích canh tác hiện hữu, không đề nghị giao đất và không đồng nghĩa cam kết tự thu mua toàn bộ sản lượng.
Các giải pháp dự kiến gồm lựa chọn giống chất lượng cao phù hợp từng vùng sinh thái; cơ giới hóa gieo sạ, giảm lượng giống sử dụng; bón phân hợp lý, giảm thuốc bảo vệ thực vật hóa học; ứng dụng chế phẩm sinh học có hiệu quả được kiểm chứng; quản lý dịch hại tổng hợp và xử lý rơm rạ theo hướng tuần hoàn.
Ở những nơi có điều kiện thủy lợi phù hợp, doanh nghiệp sẽ thúc đẩy tưới ngập - khô xen kẽ (AWD), ghi nhận nhật ký số và thực hiện đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải. Khâu thu hoạch, sấy, bảo quản và chế biến cũng cần được tổ chức đồng bộ nhằm giảm tổn thất, kiểm soát an toàn thực phẩm và duy trì khả năng truy xuất nguồn gốc.
Để bảo đảm đầu ra cho vùng nguyên liệu, ông Thòn kiến nghị phát triển thị trường đối với gạo an toàn, chất lượng cao, có nguồn gốc minh bạch; thúc đẩy hợp đồng dài hạn và thương mại gạo xuất khẩu. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế tín dụng thu mua theo mùa vụ, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn phù hợp với hợp đồng liên kết, kế hoạch thu mua và dòng tiền tiêu thụ, bảo đảm thanh toán kịp thời cho nông dân.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.