Trao con giống, mở đường sinh kế

Những con giống được hỗ trợ đã giúp nhiều hộ dân vùng khó Lạng Sơn có thêm sinh kế, tự tin đầu tư phát triển chăn nuôi, từng bước cải thiện thu nhập.
Chủ động gây dựng sinh kế
Sau lứa vịt đầu tiên được Nhà nước hỗ trợ, chị Lương Thị Khuyên ở xã Xuân Dương, tỉnh Lạng Sơn quyết định bỏ vốn mua thêm 1.300 con giống. Với chị, đây là bước đi đáng kể khi gia đình không còn chỉ dựa vào nguồn hỗ trợ mà đã chủ động đầu tư phát triển chăn nuôi.
Cuối năm 2025, gia đình chị Khuyên được hỗ trợ 600 con vịt cổ xanh từ nguồn vốn Tiểu dự án 2 về hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, thuộc Dự án 3 của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Sau lứa nuôi đầu tiên, nhận thấy đàn vịt phát triển tốt, có người tìm mua, đầu năm 2026, chị quyết định mở rộng chăn nuôi bằng vốn của gia đình. Đến dịp rằm tháng 7 âm lịch, thương lái đến tận nhà thu mua đàn vịt, giúp chị thuận lợi hơn trong tiêu thụ sản phẩm.
“Được Nhà nước hỗ trợ con giống, gia đình tôi có thêm điều kiện phát triển chăn nuôi. Sau lứa nuôi đầu tiên, thấy vịt phát triển tốt, có người thu mua nên tôi mạnh dạn bỏ vốn mua thêm giống. Thương lái đến tận nhà mua theo đàn nên gia đình không phải lo tìm nơi tiêu thụ. Thời gian tới, tôi tiếp tục duy trì chăn nuôi để có thêm thu nhập”, chị Khuyên cho hay.
Con giống về với vùng khó
Tại Xuân Dương, năm 2026, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất tiếp tục đến với 85 hộ nghèo, cận nghèo. Các dự án mới tập trung vào chăn nuôi gia súc sinh sản, gồm 20 hộ nuôi trâu, 30 hộ nuôi ngựa bạch và 35 hộ nuôi bò.
Ở xã Chiến Thắng, anh Hoàng Văn Lực, người dân tộc Nùng ở thôn Nà Hà, cũng đang phát triển sinh kế từ chăn nuôi dê Thái Lan. Năm 2022, anh tự bỏ vốn mua gần 20 con dê về nuôi thử nghiệm. Nhận thấy vật nuôi thích nghi với điều kiện địa phương, anh tiếp tục mở rộng quy mô, có thời điểm đàn dê của gia đình lên tới 200 con.
Năm 2025, anh Lực cùng người dân thành lập Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Nà Hà - Chiến Thắng với 10 thành viên ban đầu. Cuối năm đó, các thành viên hợp tác xã được hỗ trợ hơn 400 con dê giống cùng thức ăn chăn nuôi từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
“Trước đây, gia đình tôi chủ yếu tự bỏ vốn chăn nuôi nên việc mở rộng đàn còn nhiều khó khăn. Khi tham gia hợp tác xã và được Nhà nước hỗ trợ thêm con giống, chúng tôi có điều kiện phát triển sản xuất, tạo thêm thu nhập cho các thành viên. Điều quan trọng là mọi người cùng chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc, tìm đầu ra cho sản phẩm để duy trì chăn nuôi lâu dài”, anh Lực chia sẻ.
Đầu năm 2026, hợp tác xã xuất bán lứa dê thương phẩm đầu tiên, đạt doanh thu hơn 3,6 tỷ đồng. Kết quả bước đầu giúp các thành viên có thêm niềm tin vào mô hình chăn nuôi đang triển khai.
Tại Chiến Thắng, năm 2026, xã tiếp tục triển khai 17 dự án thuộc Tiểu dự án 2, Dự án 3, gồm 14 dự án chăn nuôi ngựa bạch và 3 dự án chăn nuôi dê.
Theo ông Lý Minh Hải, Phó Trưởng phòng Kinh tế xã Chiến Thắng, ngựa bạch và dê phù hợp với điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất của người dân. Khi triển khai, xã chú trọng lựa chọn mô hình theo thế mạnh từng thôn và khả năng chăn nuôi của các hộ tham gia. Ngoài con giống, thức ăn chăn nuôi, người dân còn được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, phòng, chống dịch bệnh.
Để sinh kế phát triển lâu dài
Những mô hình tại Xuân Dương, Chiến Thắng là một phần trong các hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất được Lạng Sơn triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi những năm qua.
Theo Sở Dân tộc và Tôn giáo Lạng Sơn, giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh triển khai 47 dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị với hơn 1.380 hộ tham gia. Ngoài ra, 309 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế đã thu hút trên 8.890 hộ dân tại các xã khu vực III và thôn đặc biệt khó khăn.
Qua các dự án, nhiều hộ có thêm điều kiện đầu tư sản xuất, tiếp cận kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt. Một số mô hình được người dân tiếp tục duy trì, mở rộng bằng nguồn vốn gia đình.
Năm 2026, tỉnh tiếp tục thực hiện các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi bằng nguồn vốn những năm trước chuyển sang, với tổng kinh phí hơn 886 tỷ đồng, trong đó Tiểu dự án 2, Dự án 3 có nguồn vốn hơn 120 tỷ đồng.
Việc lựa chọn vật nuôi phù hợp, hướng dẫn kỹ thuật và tìm đầu ra cho sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng duy trì sinh kế của các hộ. Đặc biệt, với những mô hình chăn nuôi sinh sản, hiệu quả không thể đánh giá chỉ qua số lượng con giống đã bàn giao mà còn phụ thuộc vào khả năng chăm sóc, phát triển đàn trong những năm tiếp theo.
Theo đánh giá của Sở Dân tộc và Tôn giáo, qua triển khai Tiểu dự án 2, Dự án 3, nhiều hộ dân đã thay đổi cách nghĩ, cách làm, chủ động áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Trong năm 2026, Sở tiếp tục phối hợp với các ngành, chính quyền cấp xã rà soát tiến độ, tháo gỡ khó khăn trong thực hiện và giải ngân nguồn vốn chuyển tiếp, chú trọng lựa chọn mô hình phù hợp với từng địa bàn và liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Những mô hình chăn nuôi đang hình thành và phát triển ở các xã vùng khó Lạng Sơn cho thấy ý nghĩa của chính sách hỗ trợ con giống đối với sinh kế người dân. Khi có thêm điều kiện sản xuất và chủ động trong cách làm ăn, các hộ dân có cơ hội tạo dựng nguồn thu nhập ổn định, từng bước cải thiện cuộc sống.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.