🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Kỹ thuật

Tìm hướng đi bền vững cho nghề nuôi ong rừng ngập mặn

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Tìm hướng đi bền vững cho nghề nuôi ong rừng ngập mặn

Câu chuyện ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy cho thấy khi người nuôi ong ràng buộc trách nhiệm với rừng, cả sinh kế lẫn hệ sinh thái đều có cơ hội phát triển bền vững.

Ngày 21/7, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình tổ chức Diễn đàn Khuyến nông @ nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp phát triển nuôi ong bền vững gắn với thương hiệu sản phẩm”.

Diễn đàn có sự tham gia của đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y, Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương, Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam cùng người nuôi ong các tỉnh/thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Thanh Hóa và 80 hộ nuôi ong tại Ninh Bình.

Ngành ong đứng trước ngã rẽ

Nghề nuôi ong Việt Nam hiện có khoảng 1,3 - 1,4 triệu đàn, hơn 35.000 hộ tham gia sản xuất và 31 doanh nghiệp xuất khẩu. Năm 2024, cả nước thu hơn 57.000 tấn mật, năm nay ước đạt gần 59.300 tấn. Việt Nam nằm trong nhóm các nước xuất khẩu mật ong lớn của thế giới, hai thị trường chính là Mỹ và Liên minh Châu Âu.

Nhưng phía sau những con số đó là không ít trăn trở. Sản xuất còn manh mún, chất lượng mật giữa các vùng chưa đồng đều, chuỗi liên kết lỏng lẻo, việc xây dựng thương hiệu vẫn bị xem nhẹ. Đáng lo hơn, từ năm 2022, Mỹ áp thuế chống bán phá giá lên mật ong Việt Nam khiến kim ngạch xuất khẩu và thu nhập người nuôi ong bị ảnh hưởng. Bài toán đặt ra lúc này không chỉ là tăng sản lượng mà phải nâng chất lượng, làm tốt truy xuất nguồn gốc và mở rộng thêm thị trường mới.

Tại Diễn đàn, một vấn đề khác được đặt ra là kiểm soát dịch bệnh khi nghề nuôi ong ở nhiều nơi mang tính du mục, di chuyển đàn liên tỉnh theo mùa hoa. TS Trương Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ong và Thủy cầm (Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam) cho biết, việc di chuyển đàn là đương nhiên với nghề nuôi ong chuyên nghiệp nhưng không phải muốn đi là đi.

Trước khi đàn ong di chuyển đến một địa phương mới, chi cục chăn nuôi và thú y sở tại phải đến kiểm tra, đảm bảo các điều kiện an toàn dịch bệnh mới cho phép di chuyển. Đây là mắt xích quyết định để tránh mầm bệnh theo chân đàn ong lây lan qua các vùng.

Hai nhóm vấn đề khác cũng được thảo luận sâu tại Diễn đàn là nâng chất lượng giống ong, tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác xã, tăng liên kết chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu gắn với truy xuất nguồn gốc, đặc trưng vùng sinh thái, hướng tới sản phẩm OCOP, chỉ dẫn địa lý. Mục tiêu đến năm 2030, ngành ong cả nước duy trì 1,3 - 1,5 triệu đàn, năng suất bình quân trên 42kg mật/đàn/năm (đối với ong ngoại), sản lượng ổn định 55.000 - 60.000 tấn.

Khi con ong “canh giữ” rừng ngập mặn

Trong khuôn khổ Diễn đàn, các đại biểu đã tham quan mô hình nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn tại Vườn Quốc gia Xuân Thủy gắn với thương hiệu “Mật ong Sú Vẹt”. Ông Vũ Quốc Đạt - Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Xuân Thủy cho biết: Vườn có tổng diện tích 7.100ha, trong đó hơn 1.000ha là rừng ngập mặn. Quy mô đàn ong khai thác tại đây hiện khoảng 5.000 - 7.000 đàn, đạt sản lượng 70 - 80 tấn mật ong sú vẹt mỗi năm. Sản phẩm đã được công nhận OCOP 3 sao.

Theo ông Đạt, để dung hòa giữa bảo tồn và sinh kế, Vườn đã xây dựng các mô hình gắn cộng đồng với tài nguyên rừng như nuôi trồng thủy sản quảng canh trong đầm, nuôi ong khai thác nguồn hoa tự nhiên từ cây sú, vẹt. Khi người dân có thu nhập ổn định từ hệ sinh thái này, họ sẽ có trách nhiệm hơn trong việc giữ rừng. Vì vậy, các hộ nuôi ong khi vào khu vực Vườn đều phải đăng ký, cam kết bảo vệ rừng ngập mặn.

Tuy nhiên, mô hình này vẫn còn những điểm nghẽn. Ông Đạt thừa nhận hoạt động nuôi ong tại đây đa phần nhỏ lẻ, chưa quy củ, trong khi biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan cũng tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong đó có nguồn hoa sú, vẹt.

Giải pháp trước mắt, theo ông Đạt là hướng dẫn bà con quy trình kỹ thuật bài bản hơn, tổ chức sản xuất theo nhóm, theo hợp tác xã để việc khai thác mật không còn mạnh ai nấy làm. Một hướng đi khác là gắn sinh kế với du lịch sinh thái ngay trong vùng lõi và vùng đệm, tận dụng lượng khách 20.000 - 25.000 lượt mỗi năm đến tham quan Xuân Thủy, vừa quảng bá giá trị bảo tồn của khu ramsar này, vừa tạo cơ hội tiếp cận khách hàng quan tâm đến mật ong.

Nhìn từ Xuân Thủy ra toàn vùng ven biển Ninh Bình - nơi có gần 7.000ha rừng ngập mặn với trên 80% là cây sú, vẹt, mô hình nuôi ong gắn với rừng vẫn đang mang tính tự phát ở nhiều điểm ngoài phạm vi vườn quốc gia, thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ.