
Trồng sầu riêng bao lâu cho trái? Các mốc cần biết
Sầu riêng ghép thường bắt đầu cho trái bói sau khoảng 4–5 năm trồng, và vào giai đoạn kinh doanh ổn định từ khoảng năm thứ 6–7 trở đi (tùy giống, cây giống và cách chăm).
Bài 4657–4680 trong tổng số 9.653 bài.

Sầu riêng ghép thường bắt đầu cho trái bói sau khoảng 4–5 năm trồng, và vào giai đoạn kinh doanh ổn định từ khoảng năm thứ 6–7 trở đi (tùy giống, cây giống và cách chăm).

Thời điểm trồng sầu riêng tốt nhất là đầu mùa mưa, khi đất đủ ẩm ổn định. Trồng lúc này cây con được cấp ẩm tự nhiên, bén rễ nhanh và có cả mùa mưa để phát triển trước khi vào mùa khô.

Sâu đục trái sầu riêng (ấu trùng đục vào trái) làm trái bị lỗ đục, chảy nhựa, thối múi bên trong, giảm chất lượng và giá trị, nhất là trái xuất khẩu. Sâu tấn công từ khi trái còn non đến gần chín.

Một nguyên nhân lớn khiến sầu riêng rụng trái non là cạnh tranh dinh dưỡng giữa trái và đọt non: khi cây vừa nuôi trái vừa đi đọt, đọt "giành" dinh dưỡng làm trái non yếu và rụng. Ngoài ra còn do mất cân đối phân bón, thiếu canxi – bo, sốc nước và thời tiết.

Rầy phấn (còn gọi rầy nhảy) là đối tượng hại đọt và lá non sầu riêng rất phổ biến: chúng chích hút làm lá non nhăn, cháy mép, rụng, đọt kém phát triển, cây suy và ảnh hưởng ra hoa, nuôi trái. Rầy bùng mạnh vào các đợt cây ra đọt non.

Sầu riêng đang nuôi trái mà gặp nắng gắt sau một đợt mưa (hoặc mưa lớn rồi nắng đột ngột) rất dễ bị sốc nước, rụng trái hàng loạt. Nguyên nhân là độ ẩm đất thay đổi đột ngột khiến cây "giật" nước, kích đi đọt và làm cuống trái yếu.

Sầu riêng là cây tán lớn, ưa thoáng nên cần trồng thưa: khoảng cách phổ biến và hợp lý là 8–10 m giữa các cây (tùy giống, đất và điều kiện chăm sóc).

Sầu riêng cực kỳ kỵ úng nước: rễ ngập nước dễ bị nấm Phytophthora tấn công gây xì mủ, thối rễ, chết cây. Vì vậy đất trồng phải thoát nước thật tốt, và ở vùng thấp, đất nặng hay ngập phải lên mô (mô cao), làm mương liếp để gốc luôn ráo.

Ri6, Monthong (Dona) và Musang King là ba giống sầu riêng phổ biến nhưng khác nhau rõ về cơm, hạt, thời gian và thị trường: Ri6 cơm vàng đậm, hạt lép nhiều, chín nhanh, hợp thị trường nội địa; Monthong cơm dày, ráo, hạt to, được ưa chuộng xuất khẩu; Musang Kin…

Chọn cây giống sầu riêng tốt, sạch bệnh là bước đầu quyết định cả vườn: cây giống mang sẵn nấm Phytophthora hay bị tuyến trùng thì trồng xuống rất dễ xì mủ, còi cọc, chết.

Bệnh thối trái sầu riêng (chủ yếu do nấm Phytophthora và một số nấm khác) bùng mạnh trong mùa mưa ẩm, làm trái xuất hiện vết thối nâu đen, lan nhanh, có thể rụng hoặc hỏng cả trái. Bệnh lây từ đất, nước mưa bắn lên và từ trái bệnh sang trái lành.

Có ba cách sơ chế cà phê phổ biến: chế biến khô (phơi nguyên trái), chế biến ướt (xát vỏ, ủ lên men, rửa sạch nhớt) và chế biến honey/mật ong (xát vỏ nhưng giữ lại lớp nhớt khi phơi). Mỗi cách cho hương vị và chi phí khác nhau.

Quản lý cỏ dại trong vườn cà phê nên theo hướng kiểm soát ở mức hợp lý, không lạm dụng thuốc diệt cỏ. Cỏ cạnh tranh nước, phân với cà phê nhưng nếu diệt sạch trơ đất lại gây xói mòn, đất chai, mất ẩm và hại hệ vi sinh.

Ghép cải tạo (cưa gốc rồi ghép chồi giống mới) là cách trẻ hóa vườn cà phê già cỗi hoặc giống kém mà tận dụng bộ rễ sẵn có, nhờ đó cây phục hồi nhanh và cho thu lại sớm hơn nhiều so với trồng mới hoàn toàn.

Tưới – bón kết hợp (fertigation) là hòa phân vào nước tưới rồi đưa tới gốc qua hệ thống (thường là tưới nhỏ giọt hoặc béc). Cách này giúp cấp dinh dưỡng đều, đúng vùng rễ, chia nhỏ nhiều lần, giảm thất thoát phân và tiết kiệm công.

Tạo tán và hãm ngọn là kỹ thuật khống chế chiều cao và định hình bộ tán cho cà phê, giúp cây thấp gọn, cành phân bố đều, dễ chăm sóc, phun thuốc và thu hái, đồng thời cho năng suất ổn định.

Phơi sấy cà phê đúng cách quyết định rất lớn đến chất lượng và giá bán: phơi/sấy để hạ độ ẩm nhân về mức an toàn (khoảng 12,5%), đều và không quá nhanh, tránh mốc, tránh ám mùi.

Cà phê nhân bị đen, vỡ, lép, sâu mọt (hạt lỗi) nhiều làm giảm phẩm cấp và bị trừ giá. Nguyên nhân trải khắp chuỗi: hái lẫn trái xanh/quá chín, phơi sấy sai, sâu bệnh trên trái (mọt đục quả), xay xát mạnh và bảo quản ẩm.

Cà phê nhân để bảo quản an toàn cần được phơi/sấy về độ ẩm khoảng 12,5% (theo tiêu chuẩn thương mại phổ biến). Nhân ẩm cao hơn dễ mốc, lên men, sinh nấm độc và giảm phẩm cấp; nhân quá khô lại hao trọng lượng và dễ vỡ khi xát.

Cà phê đặc sản (specialty) là cà phê đạt chất lượng cao được đánh giá theo thang điểm thử nếm quốc tế (thường từ 80 điểm trở lên theo thang 100), có hương vị đặc trưng, sạch lỗi và truy xuất được nguồn gốc.

Muốn trữ cà phê nhân lâu (chờ giá) mà không giảm chất lượng, phải bảo đảm ba điều: nhân đã khô đạt độ ẩm an toàn (~12,5%), kho khô ráo – thoáng – sạch mùi, và cách ẩm tốt khỏi nền, tường.

Doanh nghiệp Sun Yuan (Đài Loan, Trung Quốc) tìm đối tác Việt Nam cung ứng sầu riêng

Nhu cầu đạm (N) – lân (P) – kali (K) của cà phê thay đổi theo giai đoạn: thời kỳ kiến thiết cơ bản cần nhiều đạm và lân để phát triển thân lá và rễ; thời kỳ kinh doanh cần cân đối, và tăng mạnh kali khi nuôi trái để trái chắc, nhân to.

Tủ gốc là biện pháp phủ vật liệu hữu cơ quanh gốc cà phê để giữ ẩm trong mùa khô. Làm đúng, tủ gốc giúp giảm bốc hơi, giữ đất mát ẩm lâu, đỡ số lần tưới, hạn chế cỏ dại và về lâu dài còn bổ sung hữu cơ khi vật liệu mục ra.